vanban.org

Bản án 39/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ tình cảm: Chị Hồ Thị T được ly hôn anh Lê Doãn H.

Về quan hệ con chung: Giao con chung cháu Lê Doãn Đức H(Giới tính: Nam), sinh ngày 04/12/2014 cho anh Lê Doãn H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Chị Hồ Thị T người không trực tiếp nuôi con chung được quyền đi lại thăm nom chăm sóc con chung không ai được cản trở, ngăn cấm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân và gia đình"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ tình cảm: Chị Hồ Thị T được ly hôn anh Lê Doãn H.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử; Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN YÊN THÀNH
TỈNH NGHỆ AN
––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:39/2023/HNGĐ-ST
Ngày 12 tháng 04 năm 2023
“V/việc tranh chấp về hôn nhân gia đình”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH - TỈNH NGHỆ AN

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Anh Ngọc

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đình Thanh – Ông Phan Văn Hưng

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Công Hưng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Thành - tỉnh Nghệ An.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành - tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Không tham gia.

Trong ngày 12 tháng 04 năm 2023 tại Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số:77/2023/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 02 năm 2023 , về việc Tranh chấp Hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:48/2023/QĐST- HNGĐ ngày 15/3/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 15/2023/QĐ-HPT ngày 31/03/2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Hồ Thị T, sinh ngày 12/5/1985.

Trú tại: xóm 1, xã L, huyện Y, tỉnh Nghệ An. (Có mặt)

- Bị đơn: Anh Lê Doãn H, sinh ngày 07/5/1986.

Trú tại: xóm 1, xã L, huyện Y, tỉnh Nghệ An.

(Vắng mặt lần thứ 2 tại phiên tòa không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn khởi kiện, trình bày tại bản khai và trình bày của nguyên đơn tại phiên tòa thì vụ án có nội dung.

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Hồ Thị T, Anh Lê Doãn H tổ chức cưới nhau vào tháng 9/2015, hôn nhân trên cơ sở tình yêu và sự tự nguyện, tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán địa phương được sự đồng ý chấp thuận của gia đình hai bên. Chị T, Anh H đã làm thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND xã L, huyện Y, tỉnh Nghệ An đã được cấp giấy chứng nhận kết hôn số: 29 /2015 ngày 21/9/2015.Theo Chị T vợ chồng sống hạnh phúc với nhau đến đầu năm 2016 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chủ yếu là do vợ chồng không hợp nhau về mọi mặt, anh H sống gia trưởng, vũ phu, trong cuộc sống chung có nhiều va chạm, xô xát, xử sự không đúng mực đối với nhau, nên vợ chồng mất hết tình cảm, hôn nhân rạn nứt. Đầu năm 2020 mâu thuẫn xẩy ra rất sâu sắc, trầm trọng, nên vợ chồng không có thức hòa giải để vợ chồng đoàn tụ, vợ chồng cũng không yêu cầu gia đình hai bên, các tổ chức đoàn thể nơi vợ chồng cư trú tổ chức hòa cho vợ chồng mà để mặc cho hậu quả hôn nhân cho hôn nhân đổ vỡ. Do chị T mất hết tình cảm tình yêu đối với anh H, nên chị T đã chủ động sống ly thân cắt đứt các quan hệ, liên hệ đối với anh H từ tháng 5 năm 2020 cho đến nay. Để ổn định cuộc sống chị T đề nghị Tòa giải quyết cho chị được ly hôn anh Lê Doãn H.

- Về quan hệ con chung: Vợ chồng có 01 con chung cháu Lê Doãn Đức Huy (Giới tính: Nam), sinh ngày 04/12/2014. Từ ngày vợ chồng sống ly thân con do anh H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, Chị T đi lại thăm nom chăm sóc con chung thường xuyên. Nếu ly hôn chị T đề nghị giao nuôi con chung cho anh H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, vì con chung có nguyện vọng được sinh sống với bố, chị sẽ tự nguyện cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.200.000 đồng.

- Về quan hệ tài sản chung: Chị Hồ Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn anh Lê Doãn H, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, yêu cầu anh có mặt tại tòa án để giải quyết vụ án, nhưng anh không hợp tác, cố tình vắng mặt, tòa án không thu thập được ý kiến, lời khai của bị đơn. Song qua các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp và xác minh tình trạng hôn nhân, con chung chưa thành niên tại địa phương thì về quan hệ hôn nhân, quan hệ con chung giữa chị Hồ Thị T, anh Lê Doãn H cơ bản đúng như nguyên đơn đã trình bày.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]Về tố tụng: Đây là vụ án tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn có nơi cư trú tại xóm 1, xã L, huyện Y, tỉnh Nghệ An nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An, qui định tại Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, yêu cầu nguyên đơn, bị đơn có mặt tại tòa án để giải quyết, nhưng bị đơn anh Lê Doãn H không chấp hành, không hợp tác. Do đó Tòa án đã lập biên bản theo trình tự quy định của Bộ luật tố tụng dân sự làm cơ sở để giải quyết vụ án.

Quyết định đưa vụ án ra xét xử, giấy báo tham gia phiên tòa lần thứ nhất đã được tống đạt lệ cho các đương sự. Tại phiên tòa lần thứ nhất nguyên đơn có mặt, bị đơn anh Lê Doãn H vắng mặt không có lý do, Hội đồng xét xử đã Quyết định hoãn phiên tòa, ấn định về thời gian tiếp tục xét xử vụ án.Tòa án tiếp tục tống đạt, hợp lệ Quyết định hoãn phiên tòa và Giấy báo tham gia phiên tòa lần thứ hai cho các đương sự. Tại phiên tòa lần thứ hai nguyên đơn có mặt, bị đơn tiếp tục vắng mặt không có lý do, căn cứ điểm b, khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử, tiến hành xét xử vụ án vắng mặt đối với bị đơn anh Lê Doãn H.

Về nội dung:

- Về quan hệ hôn nhân: Điều kiện kết hôn, trình tự thủ tục tiến tới hôn nhân giữa chị Hồ Thị T, anh Lê Doãn H đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Chị T, anh H tự nguyện tiến tới hôn nhân, đã làm thủ tục đăng ký kết hôn tại tại UBND xã L, huyện Y, tỉnh Nghệ An được cấp giấy chứng nhận kết hôn số: 29 /2015 ngày 21/9/2015 nên xác định hôn nhân giữa chị Hồ Thị T và anh Lê Doãn H là hôn nhân hợp pháp.

Mâu thuẫn cơ bản dẫn đến hôn nhân giữa chị T, anh H tan rã, đổ vỡ là do quá trình sống chung vợ chồng không tìm được tiếng nói, lối đi chung hôn nhân, đã có những lời nói, xử sự không đúng mực với nhau trong quá trình sống chung. Anh H không kìm nén được cảm xúc nên đã đánh chị T nhiều lần, gây đau đớn về thể chất, tinh thần cho chị H. Chị T xác định hôn nhân đã đổ vỡ chị đã chủ động sống ly thân cắt đứt các mối quan hệ từ tháng 5 năm 2020. Kể từ ngày sống ly thân cho đến nay các bên không có ý thức liên lạc níu kéo hôn nhân. Từ đó cho thấy hôn nhân giữa chị T, anh H đã thực sự tan rã, đổ vỡ, sợi dây gắn kết tình cảm, mục đích hôn nhân giữa các bên không còn. Nay chị T yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn anh H là có căn cứ, cần áp dụng Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình xử cho chị T được ly hôn anh Lê Doãn H.

- Về quan hệ con chung: Vợ chồng có một con chung, từ ngày vợ chồng sống ly thân con được anh H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, chị rất có trách nhiệm đối với con chung đi lại thăm nom chăm sóc con chung thường xuyên, nhưng anh H gây khó dễ cho chị về việc nuôi dạy con chung. Chị T đề nghị giao con chung cho anh H nuôi là đúng, phù hợp với pháp luật và đạo đức xã hội, phù hợp với nguyện vọng con chung, do đó cần áp dụng Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình, xử chấp nhận về việc đề nghị giao nuôi con của chị Hồ Thị T.

Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Do anh Lê Doãn H cố tình vắng mặt, không có bản khai, ý kiến để lại về việc yêu cầu cầu chị T thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Nhưng chị T tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 1.200.000 đồng là đúng pháp luật, thể hiện người mẹ có trách nhiệm, vì vậy chấp nhận sự tự nguyện cấp dưỡng nuôi con của Chị Hồ Thị T.

- Về quan hệ tài sản: Chị Hồ Thị T không yêu cầu tòa giải quyết, nên không xem xét giải quyết.

- Về án phí: Buộc Chị Hồ Thị T phải nộp án phí ly hôn và án phí cấp dưỡng nuôi con sơ thẩm.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84; Điều 107 và Điều 110 của Luật hôn nhân và gia đình.

Xử:

1. Về quan hệ tình cảm: Chị Hồ Thị T được ly hôn anh Lê Doãn H.

2.Về quan hệ con chung: Giao con chung cháu Lê Doãn Đức H(Giới tính: Nam), sinh ngày 04/12/2014 cho anh Lê Doãn H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng.

Chị Hồ Thị T người không trực tiếp nuôi con chung được quyền đi lại thăm nom chăm sóc con chung không ai được cản trở, ngăn cấm.

Vì lợi ích của con các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Ghi nhận sự tự nguyện việc thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung sau khi ly hôn của chị Hồ Thị T đối với con chung như sau:

Chị Hồ Thị T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh Lê Doãn H mỗi tháng 1.200.000đ(Bằng chữ: Một triệu, hai trăm nghìn đồng), kể từ tháng 4/2023 cho đến lúc con chung đủ 18 tuổi.

Kể từ ngày anh Lê Doãn H làm đơn yêu cầu thi hành án đối với khoản tiền nói trên, nếu chị Hồ Thị T không thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi suất của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất qui định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

3. Về án phí: Áp dụng điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự: Điều 26: Điều 27 của nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội qui định về mức thu, miễn giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

- Buộc: Chị Hồ Thị T nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con sơ thẩm. Số tiền án phí ly hôn sơ thẩm của chị được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) chị đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An theo biên lai nộp tiền số: 0000626 ngày 13/02/2023. Chị Hồ Thị T còn phải nộp 300.000đ(Ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt được quyền kháng cáo lên tòa án cấp phúc thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo lên tòa án cấp phúc thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết tại trụ sở UBND xã L, huyện Y, Nghệ An và nơi cư trú cuối cùng của bị đơn.

TM: HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ