- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "vụ án ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho chị Phan Thị Th được ly hôn anh Nguyễn Văn H
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH CHƯƠNG TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 39/2023/HNGĐ-ST Ngày: 15/3/2023 V/v tranh chấp: " Hôn nhân và gia đình" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH CHƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có;
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Trọng Sơn.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đắc Sửu, ông Nguyễn Doãn Ước
- Thư ký phiên toà: Ông Trần Văn Thỏa. Thư ký, Toà án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Chương tham gia phiên tòa: Bà; Trịnh Thị Ngọc Soa - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 06/2023/TLST-HNGĐ, ngày 11/02/2023, về việc tranh chấp hôn nhân và gia đình. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2023/QĐXX-ST, ngày 28/02/2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Phan Thị Th, sinh năm 1980. Địa chỉ: Thôn 3, xã TL, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Có mặt
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1982. Địa chỉ: Thôn 3, xã TL, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn xin ly hôn, bản tự khai và lời trình bày của nguyên đơn tại phiên tòa, chị Phan Thị Th trình bày như sau:
- Về hôn nhân: Chị Phan Thị Th kết hôn với anh Nguyễn Văn H vào ngày 04 tháng 01 năm 2010, trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Xuân Viên, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, nơi quê hương của chị Phan Thị Th. Sau khi kết hôn hai vợ chồng sống tại nhà nội ở xã TL, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Tình cảm vợ chồng sau khi cưới sống hạnh phúc bình thường. Đến khoảng năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, chồng hay đánh đập vợ; mâu thuẫn trầm trọng nhất từ tháng 04/2022, nguyên nhân là do chồng đánh đập chị tàn nhẫn, nên chị không thể chịu đựng được và hai người đã sống ly, người ở nhà trên và người ở nhà dưới.
Nay chị Phan Thị Th xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, nên xin được ly hôn anh Nguyễn Văn H.
- Về con cái: Vợ chồng có 03 con chung với nhau; gồm Nguyễn Thị An Na, sinh ngày 20/10/2010; Nguyễn Thị An Nhiên, sinh ngày 02/9/2013 và Nguyễn Văn Hoan, sinh ngày 20/02/2016.
Ly hôn chị Phan Thị Th có nguyện vọng được nuôi cả 03 con và không yêu cầu chồng cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản và nợ: Chị Phan Thị Th không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cũng đã triệu tập để công khai chứng cứ và hòa giải, song anh Nguyễn Văn H vắng mặt, cho nên không thể thực hiện được việc công khai chứng cứ và hòa giải. Tại Biên bản lấy lời khai ngày 03/02/2023, anh Nguyễn Văn H trình bày như sau:
- Về hôn nhân: Anh Nguyễn Văn Hỏa kết hôn với chị Phan Thị Th vào ngày 04 tháng 01 năm 2010, trên cơ sở tự nguyện, tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Xuân Viên, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, nơi quê hương của chị Phan Thị Th. Sau khi kết hôn hai vợ chồng sống tại nhà nội ở xã TL, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Tình cảm vợ chồng sau khi cưới sống hạnh phúc bình thường.
Nay chị Phan Thị Th xin ly hôn, anh có nguyện vọng mong muốn vợ chồng đoàn tụ, không nhất trí ly hôn.
- Về con cái: Vợ chồng có 03 con chung với nhau; gồm Nguyễn Thị An Na, sinh ngày 20/10/2010; Nguyễn Thị An Nhiên, sinh ngày 02/9/2013 và Nguyễn Văn Hoan, sinh ngày 20/02/2016.
Nếu phải ly hôn anh Nguyễn Văn H có nguyện vọng được nuôi cả 03 con và không yêu cầu vợ cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản và nợ: Anh Nguyễn Văn H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật về mặt thủ tục tố tụng. Còn về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử cho chị Phan Thị Th được ly hôn anh Nguyễn Văn H; giao cho chị Phan Thị Th trực tiếp nuôi 02 con. Giao cho anh Nguyễn Văn H trực tiếp nuôi dưỡng 01 con. Về tài sản không xem xét; các đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập bị đơn để công khai chứng cứ và hòa giải, song do anh Nguyễn Văn H vắng mặt, cho nên không thể thực hiện việc hòa giải và công khai chứng cứ. Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn đã được tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử và giấy triệu tập hợp lệ, nhưng vẫn vắng mặt, cho nên Tòa án vẫn tiến hành xét xử bình thường theo quy định tại Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Cuộc hôn nhân giữa chị Phan Thị Th và anh Nguyễn Văn H, được xác lập trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu và có đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 04/01/2010 tại UBND xã Xuân Viên, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Sau khi kết hôn hai vợ chồng sống tại quê nội ở xã TL, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An.Vợ chồng sống tình cảm bình thường đến năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp nhau, không tìm được tiếng nói chung. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã triệu tập để công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng chị Phan Thị Th vẫn nhất quyết xin ly hôn, còn anh Nguyễn Văn H thì xin được đoàn tụ, nhưng không đến Tòa án làm việc. Điều đó chứng tỏ tình trạng vợ chồng đã thực sự trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung không thể kéo dài, việc xin ly hôn của chị Phan Thị Th, là hoàn toàn phù hợp với Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình, nên chấp nhận cho chị Phan Thị Th được ly hôn anh Nguyễn Văn H.
Về trách nhiệm nuôi con: Vợ chồng thống nhất có 03 con chung với nhau, tên là Nguyễn Thị An Na, sinh ngày 20/10/2010; Nguyễn Thị An Nhiên, sinh ngày 02/9/2013 và Nguyễn Văn Hoan, sinh ngày 20/02/2016.
Xét thấy nguyện vọng được trực tiếp nuôi cả 03 con của 2 người là hoàn toàn chính đáng, thể hiện tình cảm của người làm cha, làm mẹ đối với các con. Song xét thấy để đảm bảo điều kiện về mọi mặt khi nuôi dạy các con trưởng thành; thì cần giao cho chị Phan Thị Th được nuôi 02 cháu, gồm cháu nhỏ nhất và cháu lớn nhất; giao cháu thứ hai cho anh Nguyễn Văn H trực tiếp nuôi dưỡng và tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh Nguyễn Văn H, là hoàn toàn phù hợp với Điều 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình.
Về chia tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Tòa án không xem xét giải quyết về phần tài sản.
Về án phí: Chị Phan Thị Th phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên ;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28; Điều 147; 227; 228 Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 51; 56; 81; 82; 83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình. Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:
1. Về hôn nhân: Cho chị Phan Thị Th được ly hôn anh Nguyễn Văn H
2. Về trách nhiệm nuôi con:
Giao cho chị Phan Thị Th trực tiếp nuôi 02 cháu là Nguyễn Thị An Na, sinh ngày 20/10/2010 và cháu Nguyễn Văn Hoan, sinh ngày 20/02/2016.
Giao cho anh Nguyễn Văn H trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Thị An Nhiên, sinh ngày 02/9/2013. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh Nguyễn Văn H.
Anh Nguyễn Văn H, chị Phan Thị Th có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án được thực hiện theo quy định các Điều 6, 7 và 9 của Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
3. Về chia tài sản chung: Tòa án không xem xét.
4. Về án phí: Chị Phan Thị Th, phải chịu: 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí xin ly hôn. Chị Phan Thị Th, được trừ đi 300.000 đồng ( Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0009300, ngày 11/01/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An.
5. Nguyên đơn có quyền kháng cáo lên Tòa án cấp trên trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Bị đơn, có quyền kháng cáo lên Tòa án cấp trên trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc niêm yết công khai.
| Nơi nhận : - TAND tỉnh Nghệ An - VKS huyện Thanh Chương - Chi cục THA dân sự - Các đương sự - UBND xã Xuân Viên, h/Nghi Xuân - Lưu HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA ( đã ký ) Nguyễn Trọng Sơn |