- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Trần Thị N và anh Nguyễn Viết X.
- Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM ĐÀN TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 39/2023/HNGĐ-ST Ngày: 31 - 8 - 2023 V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lài.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Quang Xuyên.
Ông Lê Anh Thơ.
- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Thu Trang - Thư ký Tòa án Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Ông Đào Văn Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 84/2023/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 4 năm 2023 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 64/2023/QĐXXST-HNGĐ, ngày 14 tháng 8 năm 2023; giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị N, sinh năm 1981. Nơi ĐKHKTT: Xóm X, xã KS, huyện NĐ, tỉnh Nghệ An; chỗ ở hiện nay: Thôn CL, xã NS, huyện VY, tỉnh Bắc Giang. Vắng mặt.
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Viết X, sinh năm 1980. Nơi ĐKHKTT: Xóm X, xã KS, huyện NĐ, tỉnh Nghệ An; chỗ ở hiện nay: Khu X, ấp Y, xã A, huyện LT, tỉnh Đồng Nai. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 01/02/2023, bản tự khai, lời khai trong quá trình thu thập chứng cứ, nguyên đơn chị Trần Thị N trình bày: Nguyên đơn và bị đơn anh Nguyễn Viết X đăng ký kết hôn ngày 20/02/2009 tại UBND xã KS, huyện NĐ, tỉnh Nghệ An. Hôn nhân hoàn toàn tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống bình thường được 08 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm, vợ chồng không tôn trọng nhau. Do mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng nên từ đầu năm 2023 đến nay vợ chồng không chung sống với nhau, không yêu thương, không quan tâm, chăm sóc nhau. Nay thấy không còn tình nghĩa vợ chồng nên nguyên đơn yêu cầu được ly hôn anh Nguyễn Viết X. Về con chung: Vợ chồng có hai con chung là Nguyễn Trần Anh Q, sinh ngày 01 tháng 5 năm 2009 và Nguyễn Trần Khánh L, sinh ngày 29 tháng 6 năm 2014. Vợ chồng ly hôn, nguyên đơn yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung Nguyễn Trần Khánh L và giao con chung Nguyễn Trần Anh Q cho anh Nguyễn Viết X trực tiếp nuôi dưỡng. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau. Về tài sản chung: Nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại văn bản ngày 31/7/2023, bị đơn anh Nguyễn Viết X thống nhất với nguyên đơn về thời gian, địa điểm đăng ký kết hôn, tính chất hôn nhân. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được 08 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng là do vợ chồng tính tình không hợp, quan điểm sống khác nhau. Từ đầu năm 2023 đến nay vợ chồng không chung sống với nhau, không yêu thương, không quan tâm, chăm sóc nhau. Nay thấy không còn tình nghĩa vợ chồng nên bị đơn đồng ý ly hôn chị Trần Thị N. Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung như nguyên đơn trình bày. Vợ chồng ly hôn bị đơn yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung Nguyễn Trần Anh Q và giao con chung Nguyễn Trần Khánh L cho chị Trần Thị N trực tiếp nuôi dưỡng đến khi trưởng thành, không yêu cầu chị Trần Thị N cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung: Bị đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Toà án thụ lý vụ án đúng thẩm quyền; xác định đúng quan hệ tranh chấp; trong quá trình điều tra thu thập chứng cứ, Thẩm phán chấp hành đúng quy định tại Điều 48 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Quá trình thu thập chứng cứ, thủ tục tống đạt đảm bảo quyền lợi cho các đương sự. Về việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử đã thực hiện theo đúng trình tự quy định từ Điều 239 đến Điều 260 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của Thư ký phiên tòa được thực hiện theo đúng quy định tại Điều 51 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Các đương sự thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, Điều 71, Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Áp dụng các Điều 51, 56; 81; 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, đề nghị Hội đồng xét xử: Về tình cảm: Chị Trần Thị N được ly hôn anh Nguyễn Viết X. Về con chung: Giao con chung Nguyễn Trần Anh Q, sinh ngày 01 tháng 5 năm 2009 cho anh Nguyễn Viết X trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi trưởng thành, đủ 18 tuổi. Giao con chung Nguyễn Trần Khánh L, sinh ngày 29 tháng 6 năm 2014 cho chị Trần Thị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi trưởng thành, đủ 18 tuổi. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung do các bên chưa có yêu cầu. Hai bên có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Về tài sản chung và các khoản nợ: Các đương sự không yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét. Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về áp dụng pháp luật tố tụng:
. Về thẩm quyền: Chị Trần Thị N yêu cầu ly hôn và giải quyết việc nuôi con chung với anh Nguyễn Viết X có hộ khẩu thường trú tại xã KS, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An nên Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An thụ lý giải quyết vụ án theo thủ tục chung là có căn cứ theo quy định khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2]. Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, nguyên đơn và bị đơn vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
. Về áp dụng pháp luật nội dung:
. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị N và anh Nguyễn Viết X có đủ điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8 của Luật Hôn nhân và gia đình và có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 36, quyển số 01/2009, ngày 20 tháng 02 năm 2009 của UBND xã KS, huyện NĐ, tỉnh Nghệ An nên đây là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được 08 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng tính tình không hợp, quan điểm sống khác nhau, không tôn trọng nhau. Từ đầu năm 2023 đến nay, vợ chồng không chung sống với nhau, không quan tâm, chăm sóc nhau. Xét thấy vợ chồng không chung sống với nhau, không tôn trọng, yêu thương và không còn quan tâm, chăm sóc nhau là vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng theo quy định tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và gia đình, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị Trần Thị N và anh Nguyễn Viết X đều có nguyện vọng được ly hôn nhau. Căn cứ vào Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu của chị Trần Thị N được ly hôn anh Nguyễn Viết X.
. Về con chung: Chị Trần Thị N và anh Nguyễn Viết X có hai con chung là Nguyễn Trần Anh Q, sinh ngày 01 tháng 5 năm 2009 và Nguyễn Trần Khánh L, sinh ngày 29 tháng 6 năm 2014. Thời gian vợ chồng không chung sống với nhau, con chung Nguyễn Trần Anh Q do anh Nguyễn Viết X trực tiếp nuôi dưỡng và có nguyện vọng được sống cùng bố. Con chung Nguyễn Trần Khánh L do chị Trần Thị N trực tiếp nuôi dưỡng và có nguyện vọng được sống cùng mẹ. Anh Nguyễn Viết X có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Nguyễn Trần Anh Q. Chị Trần Thị N có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Nguyễn Trần Khánh L. Vì vậy, Hội đồng xét xử giao cho anh Nguyễn Viết X được trực tiếp nuôi dưỡng Nguyễn Trần Anh Q và giao cho chị Trần Thị N trực tiếp nuôi dưỡng con chung Nguyễn Trần Khánh L là phù hợp với nguyện vọng của các đương sự và phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình.
. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Hai bên đều trực tiếp nuôi dưỡng con chung và chưa có yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau nên Hội đồng xét xử không xem xét. Khi có yêu cầu về cấp dưỡng nuôi con, các bên có quyền tự thỏa thuận hoặc khởi kiện vụ án về yêu cầu cấp dưỡng theo quy định của pháp luật.
. Về tài sản chung và các khoản nợ: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. Nếu sau có phát sinh tranh chấp thì các đương sự có quyền khởi kiện đến Tòa án bằng vụ án khác theo quy định của pháp luật.
. Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn theo quy định của pháp luật.
. Các đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Trần Thị N và anh Nguyễn Viết X.
2. Về nuôi con chung: Giao con chung Nguyễn Trần Anh Q, sinh ngày 01 tháng 5 năm 2009 cho anh Nguyễn Viết X trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi trưởng thành, đủ 18 tuổi. Giao con chung Nguyễn Trần Khánh L, sinh ngày 29 tháng 6 năm 2014 cho chị Trần Thị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi trưởng thành, đủ 18 tuổi. Anh Nguyễn Viết X và chị Trần Thị N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Trên cơ sở lợi ích của con, trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định tại Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
3. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho chị Trần Thị N và anh Nguyễn Viết X do hai bên đều trực tiếp nuôi dưỡng con chung và chưa có yêu cầu. Khi có yêu cầu về cấp dưỡng nuôi con, các bên có quyền tự thỏa thuận hoặc khởi kiện vụ án về yêu cầu cấp dưỡng theo quy định của pháp luật.
4. Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét. Nếu sau có phát sinh tranh chấp thì các đương sự có quyền khởi kiện đến Tòa án bằng vụ án khác theo quy định của pháp luật.
5. Về án phí: Chị Trần Thị N phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004952, ngày 14 tháng 4 năm 2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Chị Trần Thị N đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn.
6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Nam Đàn; - Các đương sự; - Lưu HSVA; VPTA | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thị Lài |