vanban.org

Bản án 39/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Võ Thị H và anh Đỗ Bá L.

Về con chung: Giao 02 con chung là Đỗ Thị Bảo A, sinh ngày 18/11/2013 và Đỗ Quỳnh A1, sinh ngày 17/01/2021 cho chị Võ Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác. Anh Đỗ Bá L có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung không ai được ngăn cản… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Võ Thị H và anh Đỗ Bá L.
  • Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHƯƠNG MỸ
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 39 /2023/HNGĐ-ST
Ngày: 31/01/2023
V/v: ly hôn, nuôi con.

NNHHÂÂNN DDAANNHH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Lợi

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Luận

Bà Nguyễn Thị Hà

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Dịu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ.

Ngày 31 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 628/2022/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 12 năm 2022 về việc ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 01 năm 2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Võ Thị H, sinh năm 1991 (có mặt).

Nơi cư trú: Tổ dân phố XH, thị trấn XM, huyện CM, Thành phố Hà Nội.

2. Bị đơn: Anh Đỗ Bá L, sinh năm 1992 (có đơn xin xét xử vắng mặt).

Nơi ĐKHKTT: Tổ dân phố XH, thị trấn XM, huyện CM, Tp. Hà Nội.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn chị Võ Thị H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Đỗ Bá L tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn ngày 29/3/2013 tại Ủy ban nhân dân xã ĐK, huyện KC, tỉnh Hưng Yên. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được vài năm thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung. Chị và anh L đã sống ly thân từ cuối năm 2020 đến nay. Nay chị xác định không còn tình cảm vợ chồng, đề nghị Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ giải quyết cho chị được ly hôn anh Đỗ Bá L.

Về con chung: Trong quá trình chung sống chị và anh L có 02 con chung là Đỗ Thị Bảo A, sinh ngày 18/11/2013 và Đỗ Quỳnh A1, sinh ngày 17/01/2021. Hiện hai con đang ở với chị. Khi ly hôn chị có nguyên vọng được nuôi cả hai con chung, chị không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con.

Hiện tại chị đang làm y sỹ tại Công ty TNHH y tế TĐ, tổng thu nhập 10.000.000 đồng/ 01 tháng.

Về tài sản chung, công nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Tại bản tự khai, bị đơn anh Đỗ Bá L trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Võ Thị H tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn ngày 29/3/2013 tại Ủy ban nhân dân xã ĐK, huyện KC, tỉnh Hưng Yên. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống. Vợ chồng sống ly thân được khoảng 01 năm. Nay chị H xin ly hôn anh cũng đồng ý ly hôn.

Về con chung: Anh và chị H có 02 con chung là Đỗ Thị Bảo A, sinh ngày 18/11/2013 và Đỗ Quỳnh A, sinh ngày 17/01/2021. Khi ly hôn anh đồng ý để chị H nuôi dưỡng cả hai con chung, anh tự nguyện cấp dưỡng nuôi con 1.500.000 đồng /01 con /01 tháng, 02 con là 3.000.000 đồng kể từ tháng 01 năm 2023.

Về tài sản chung, công nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

3. Ý kiến đương sự tại phiên tòa:

- Chị H vẫn giữ yêu cầu xin ly hôn anh L; về con chung: Chị H xin được nuôi cả hai con chung và không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung, công nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Bị đơn anh Đỗ Bá L có hộ khẩu thường trú tại thị trấn XM, huyện CM, Tp. Hà Nội. Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 35 và Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt và đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng. Theo quy định tại Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt.

Về nội dung:

2.1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Võ Thị H và anh Đỗ Bá L kết hôn trên cơ sở tự nguyện, tuân thủ điều kiện kết hôn và có đăng ký kết hôn ngày 29/3/2013 tại Ủy ban nhân dân xã ĐK, huyện KC, tỉnh Hưng Yên nên hôn nhân giữa chị H và anh L là hôn nhân hợp pháp. Trên cơ sở lời khai của chị H, anh L cho thấy: Trong quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn không thể hàn gắn được. Nay chị H xin ly hôn, anh L đồng ý ly hôn nên cần công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị H và anh L.

2.2. Về con chung: Chị H và anh L xác nhận có 02 con chung là Đỗ Thị Bảo A, sinh ngày 18/11/2013 và Đỗ Quỳnh A1, sinh ngày 17/01/2021. Xét việc xin nuôi con chung: Chị H có nguyện được nuôi cả hai con chung, anh L đồng ý để chị H nuôi cả hai con chung. Cháu Bảo A trên 07 tuổi có nguyện vọng ở với mẹ. Cháu Quỳnh A1 dưới 36 tháng tuổi căn cứ Khoản 3 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 “Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con….”. Mặt khác chị H có công việc và thu nhập ổn định. Xuất phát từ lợi ích mọi mặt của các con chung cần giao cháu Bảo A và Quỳnh A1 cho chị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Anh L có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở.

2.3. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ghi nhận sự tự nguyện của anh L cấp dưỡng nuôi con chung cho chị H 1.500.000 đồng/01 con /01 tháng, 02 con là 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng). Thời điểm cấp dưỡng kể từ tháng 01 năm 2023 đến khi có sự thay đổi khác.

2.4. Về tài sản chung, công nợ chung: Chị H và anh L không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2.5. Về án phí: Chị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Anh L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về cấp dưỡng nuôi con chung.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 228, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Các Điều 55, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Xử:

1.Về hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Võ Thị H và anh Đỗ Bá L.

2.Về con chung: Giao 02 con chung là Đỗ Thị Bảo A, sinh ngày 18/11/2013 và Đỗ Quỳnh A1, sinh ngày 17/01/2021 cho chị Võ Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác.

Anh Đỗ Bá L có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung không ai được ngăn cản.

3.Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ghi nhận anh Đỗ Bá L tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung cho chị Võ Thị H 1.500.000 đồng/01 con /01 tháng, 02 con là 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng). Thời điểm cấp dưỡng kể từ tháng 01 năm 2023 đến khi có sự thay đổi khác.

4.Về tài sản chung, công nợ chung: Chị H và anh L không yêu cầu Tòa án giải quyết.

5.Về án phí: Chị Võ Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về phần ly hôn. Được trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí số AA/2020/0076471 ngày 27/12/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chương Mỹ, Tp. Hà Nội. Anh Đỗ Bá L phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về cấp dưỡng nuôi con chung.

6.Về quyền kháng cáo: Chị Võ Thị H có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Đỗ Bá L có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ