- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn dungtiem"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận cho bà Lý D được ly hôn với ông Nguyễn T.
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 143 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH TỈNH BÌNH PHƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 39/2023/HNGĐ-ST Ngày: 08/9/2023 V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con chung, tranh chấp về cấp dưỡng nuôi con . |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ung Thị Ngọc Thanh
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Xuân Đính
2. Ông Phạm Minh Sơn
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Vi là Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành tham gia phiên toà: Ông Trương Văn Sa - Kiểm sát viên.
Trong ngày 08 tháng 9 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Chơn Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 101/2023/TLST- HNGĐ ngày 28 tháng 7 năm 2023 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung, tranh chấp về cấp dưỡng nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 137/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 8 năm 2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Lý D, sinh năm 1985; Địa chỉ: Tổ 10, KP.1, P. L, thị xã C,
tỉnh Bình Phước (có mặt)
Bị đơn: Ông Nguyễn T, sinh năm 1956; Địa chỉ: Tổ 10, KP.1, P. L, thị xã C,
tỉnh Bình Phước (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 18 tháng 7 năm 2023. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn bà Lý D trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà D và ông Nguyễn T chung sống vào năm 2019 có đăng ký kết hôn vào năm 2020 tại UBND xã M, huyện C (nay là P.M, thị xã C), tỉnh Bình Phước theo đúng quy định pháp luật. Trước khi chung sống cả hai đều còn độc thân.Việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc.
Quá trình chung sống vợ chồng không có hạnh phúc, thường xuyên mâu thuẫn, tính tình không hợp nhau.Từ tháng 6/2023 bà D mang con về nhà mẹ ruột sinh sống, vợ chồng ly thân từ đó cho đến nay, không còn quan tâm chăm sóc, không nói chuyện gì đến nhau. Ông T hay lên tiệm tóc của bà D tại xã Thanh An quậy phá xúc phạm quậy phá cãn trở công việc làm ăn của bà D, bà D phải mời công an xã can thiệp ông T mới không quậy nữa. Nay bà D thấy không còn tình cảm với ông T nữa, bà D thấy mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên muốn ly hôn với ông T.
Về nuôi con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn M, sinh ngày 28/4/2020 hiện con đang sống cùng bà D. Nay ly hôn bà D yêu cầu được nuôi con. Bà D yêu cầu ông T phải cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng cho đến khi con đủ 18 tuổi .
Về tài sản chung, nợ chung: Bà D không yêu cầu tòa giải quyết
Ngoài ra, bà D không có yêu cầu gì khác
Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị đơn ông Nguyễn T trình bày :
Về quan hệ hôn nhân: Ông T thống nhất với lời trình bày của bà Lý D về điều kiện chung sống, điều kiện kết hôn cũng như nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng. Quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn, bất đồng quan điểm. Từ tháng 6/2023 bà D bỏ về nhà mẹ ruột sống riêng cho đến nay. Ông T thừa nhận ông có ghen tuông nghi ngờ nhưng ông đã nhận lỗi của mình và năn nĩ vợ tha thứ nhưng không có kết quả. Thời gian bà D bỏ đi ông T cũng nhiều lần lên xin lỗi năn nĩ bà D về nhưng bà D không chịu về. Nay bà D yêu cầu ly hôn thì ông T không đồng ý vì ông rất thương vợ thương con, con hiện nay còn nhỏ bà D mong muốn vợ chồng đoàn tụ để lo cho con
Về con chung: Thống nhất vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn M, sinh ngày 28/4/2020 hiện con đang sống cùng bà D. Trường hợp Tòa án buộc phải ly hôn thì ông T đồng ý giao con cho bà D nuôi, ông T đồng ý cấp dưỡng nuôi mỗi tháng là 2.000.000 đồng cho đến khi con đủ 18 tuổi. Tuy nhiên, hiện nay ông T lớn tuổi không có thu nhập nên xin được cấp dưỡng một lần khi nào bán được nhà.
Về tài sản chung, nợ chung: thống nhất không yêu cầu tòa giải quyết
Tại phiên tòa:
- Nguyên đơn rút yêu cầu khởi kiện về cấp dưỡng, giữ nguyên các yêu cầu khởi kiện còn lại, không cung cấp, bổ sung thêm chứng cứ tài liệu nào khác.
- Bị đơn giữ nguyên quan điểm không cung cấp, bổ sung thêm chứng cứ tài liệu nào khác
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành phát biểu ý kiến.
+ Về tố tụng: Thẩm phán đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự về việc thu thập chứng cứ, giải quyết vụ án từ khi nhận đơn, thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử mở phiên toà. Tại phiên toà hôm nay, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
+ Việc tuân thủ pháp luật của những người tham gia tố tụng:
Đối với đương sự: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 71,72 và Điều 234 BLTTDS.
+ Quan điểm về giải quyết vụ án:
Vụ án thuộc trường hợp kiểm sát viên phải tham gia phiên tòa theo quy định tại Điều 21, Điều 97 BLTTDS
Qua nghiên cứu hồ sơ, tài liệu xét thấy: Bà D, ông T chung sống với nhau có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên hôn nhân của ông bà là hợp pháp. Trong quá trình chung sống xét thấy ông bà thường xuyên mâu thuẫn, đã sống ly thân và không còn quý trọng, quan tâm chăm sóc, yêu thương nhau nữa làm cho đời sống vợ chồng lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng.
Căn cứ Điều 9, Điều 51, Điều 56 luật hôn nhân và gia đình
Căn cứ vào lời khai nguyên đơn, bị đơn và các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án
Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên xử cho bà Lý D được ly hôn với ông Nguyễn T.
Về con chung: Bà D yêu cầu được nuôi Nguyễn M, sinh ngày 28/4/2020. Hiện nay con đang ở cùng bà D, bà D vẫn đảm bảo nuôi dưỡng con chung. Vì vậy, đề nghị HĐXX giao con chung cho bà D trực tiếp nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con: Đề nghị Tòa án đình chỉ yêu cầu cấp dưỡng do nguyên đơn rút yêu cầu khởi kiện về phần này.
Về án đề nghị xem xét theo quy định của pháp luật
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về quan hệ tranh chấp: Theo đơn khởi kiện và yêu cầu tại phiên tòa của nguyên đơn bà Lý D, Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án hôn nhân gia đình về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung, tranh chấp về cấp dưỡng nuôi con” theo quy định tại Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về thẩm quyền giải quyết: Do bị đơn ông Nguyễn T có nơi cư trú tại tổ 10, KP. 1, P. M, thị xã C, tỉnh Bình Phước. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước.
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lý D, Hội đồng xét xử xét thấy:
Bà Lý D và ông Nguyễn T tự nguyện sống chung với nhau vào năm 2019 có đăng ký kết hôn vào năm 2020 tại UBND xã M, huyện C (nay là P.M, thị xã C), tỉnh Bình Phước theo đúng quy định pháp luật nên hôn nhân giữa ông bà là hợp pháp.
Trong quá trình giải quyết vụ án bà D cho rằng vợ chồng chung sống không có hạnh phúc, thường xuyên mâu thuẫn, tính tình không hợp nhau. Nguyên nhân do ông T thường hay suy diễn ghen tuông vô cớ bóng gió nghi ngờ, xúc phạm danh dự bà D trong khi bà không hề làm gì sai trái. Bà D nhiều lần khuyên ngăn tha thứ ông T chỉ hứa rồi vẫn tiếp diễn làm bà D tổn thương tinh thần không thể tha thứ cho ông T được. Vợ chồng ly thân từ tháng 6/2023 cho đến nay, không còn quan tâm chăm sóc, không nói chuyện gì đến nhau. Ông T không đồng ý ly hôn nhưng ông T cũng xác định vợ chồng chung sống có nhiều mâu thuẫn do ông T có ghen tuông nghi ngờ nhưng ông đã nhận lỗi của mình và năn nĩ bà D tha thứ nhưng không có kết quả. Tại phiên tòa ông T cũng xác nhận quá trình chung sống vợ chồng chỉ được hạnh phúc thời gian ngắn sau đó xảy ra nhiều mâu thuẫn do bà D thay đổi tính cách thường hay khó chịu và hắt hủi lạnh nhạt với ông. Đến tháng 6/2023 thì bà D mang con bỏ về nhà mẹ ruột sinh sống cho đến nay, ông lên tìm năn nĩ về nhiều lần nhưng bà D dứt khoát không nghe mà còn cùng người thân xua đuổi mắng nhiếc đánh đuổi ông thậm tệ. Xét thấy, giữa bà D, ông T thường xãy ra mâu thuẫn, đã sống ly thân, không yêu thương, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận đơn yêu cầu ly hôn của bà D, cho bà D được ly hôn với ông T
Về con chung: Quá trình chung sống bà D và ông T có 01 con chung tên Nguyễn M, sinh ngày 28/4/2020 hiện đang sống cùng bà D. Bà D yêu cầu được nuôi con chung, ông T cũng đồng đồng ý cho bà D trực tiếp nuôi con, xét thấy đây là ý chí chí tự nguyện của các đương sự nên cần được HĐXX xem xét chấp nhận.
Về cấp dưỡng nuôi con: Do bà D rút yêu cầu cấp dưỡng và việc rút yêu cầu của bà D là tự nguyện và phù hợp với quy định pháp luật nên cần được xem xét chấp nhận
Về tài sản chung, nợ chung: Bà D, ông T không yêu cầu nên không xem xét giải quyết
Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn bà Lý D phải chịu là 300.000đồng.
Vì các lẽ nêu trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 143, Điều 144, Điều 147, Điều 244, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 51, Điều 56, 81, 82, 83,84 Luật Hôn nhân và gia đình.
Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về hôn nhân: Chấp nhận cho bà Lý D được ly hôn với ông Nguyễn T.
2. Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn M, sinh ngày 28/4/2020 cho bà Lý D trực tiếp nuôi dưỡng.
3. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Đình chỉ giải quyết vụ án đối với yêu cầu khởi kiện của bà Lý D về việc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con
4. Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét giải quyết
5. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà Lý D phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0012429 ngày 28/7/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước.
6. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND thị xã Chơn Thành; - Chi cục THADS thị xã Chơn Thành; - UBND P.M - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨMThẩm phán - Chủ tọa phiên tòa THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Ung Thị Ngọc Thanh |