vanban.org

Bản án 39/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị Phà C và anh Danh T.

Về con chung: Giao cháu Danh Nguyễn L, sinh ngày 22/3/2009 (Theo nguyện vọng cháu L) cho anh T tiếp tục nuôi dưỡng và chăm sóc cho đến tuổi trưởng thành.Giao cháu Danh Nguyễn Yến N, sinh ngày 23/5/2011 (Theo nguyện vọng cháu Nhi) cho chị C tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến tuổi trưởn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị Phà C và anh Danh T.
  • Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN AN BIÊN
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 39/2023/HNGĐ-ST
Ngày 27 - 3 - 2023.
V/v “tranh chấp ly hôn, nuôi con”.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Thị Gấm

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hà Minh Hằng và bà Trần Thu Trang.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Việt –Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên tham gia phiên tòa: Bà Lai Thị Ngọc Thúy – Kiểm sát viên.

Trong ngày 27 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 150/2022/TLST-HNGD, ngày 01 tháng 8 năm 2022 về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18A/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 31 tháng 01 năm 2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Phà C, sinh năm 1989;

Nơi ĐKHKTT: Ấp N, xã T Y A, huyện A B, tỉnh Kiên Giang;

Chỗ ở hiên nay: Ấp C, xã Đ, huyện T C, tỉnh Trà Vinh.

2. Bị đơn: Anh Danh T, sinh năm 1979;

Địa chỉ: Ấp N, xã T Y A, huyện A B, tỉnh Kiên Giang.

(Chị Phà C và anh T vắng mặt tại phiên tòa và đều có đơn xin vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và những ý kiến tại Tòa án chị Nguyễn Thị Phà C trình bày như sau:

Chị C và anh T sống chung với nhau từ năm 2008, hôn nhân tự nguyện, không có tổ chức lễ cưới và không có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Vợ chồng chung sống đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuân là do vợ chồng thường xuyên cự cãi, bất đồng về quan điểm sống, dẫn đến đời sống vợ chồng không hạnh phúc, vợ chồng đã hàn gắn nhiều lần nhưng không được, mục đích hôn nhân không đạt được, chị và anh T đã ly thân từ năm 2020 đến nay. Về quan hệ hôn nhân: Chị C yêu cầu được chấm dứt quan hệ hôn nhân với anh T.

Về con chung: 02 con chung tên Danh Nguyễn L, sinh ngày 22/3/2009 và Danh Nguyễn Yến N, sinh ngày 23/5/2011, chị C yêu cầu được nuôi cháu Yến N và đồng ý giao cháu L cho anh T nuôi dưỡng và không ai cấp dưỡng nuôi con.

Về T sản chung, nợ và người khác nợ vợ chồng: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra chị C không trình bày và yêu cầu gì thêm.

Bị đơn anh Danh T có ý kiến như sau:

Anh T thống nhất với lời trình bày của chị C về thời gian chung sống, không có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán của địa phương và không có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật, theo yêu cầu của chị C thì anh T đồng ý chấm dứt quan hệ hôn nhân.

Về con chung: Có 02 con chung tên Danh Nguyễn L, sinh ngày 22/3/2009 và

Danh Nguyễn Yến N, sinh ngày 23/5/2011, anh T yêu cầu được nuôi cháu L và đồng ý giao cháu Yến N cho chị C tiếp tục nuôi dưỡng và chăm sóc cho đến tuổi trưởng thành, không ai cấp dưỡng nuôi con.

Về T sản chung, nợ và người khác nợ vợ chồng: Không có, không yêu cầu tòa án giải quyết.

Ngoài ra anh T không trình bày và yêu cầu gì thêm.

Qua yêu cầu khởi kiện và ý kiến của các đƣơng sự đã thống nhất với nhau các vấn đề sau:

Về quan hệ hôn nhân: Thống nhất chấm dứt quan hệ vợ chồng.

Về con chung: Chị C và anh T thống nhất xác định có 02 người con chung tên Danh Nguyễn L, sinh ngày 22/3/2009 và Danh Nguyễn Yến N, sinh ngày 23/5/2011 (cháu N có nguyện vọng sống chung với mẹ, cháu L có nguyện vọng sống chung với cha là anh T), chị C và anh T thống nhất tự nguyện thỏa thuận giao cháu L cho anh T tiếp tục nuôi dưỡng và giao cháu Nhi cho chị C tiếp tục nuôi dưỡng và chăm sóc cho đến tuổi trưởng thành. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con.

Về T sản chung, nợ và người khác nợ vợ chồng: Không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa hôm nay: Chị C và anh T vắng mặt nên không ghi nhận ý kiến.

Kết quả xác minh từ chính quyền địa phương: Ủy ban nhân dân xã T Y A, huyện An Biên xác nhận chị C và anh T chưa đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T Y A, anh chị có 02 người con chung tên Danh Nguyễn L, sinh ngày 22/3/2009 và Danh Nguyễn Yến N, sinh ngày 23/5/2011 hiện nay cháu Nhi sống với chị C còn cháu L sông với anh T.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa phát biểu:

Về thủ tục tố tụng: Từ khi thụ lý cho đến khi đưa vụ án ra xét xử và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán, HĐXX, Thư ký, các bên đương sự đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.

Về nội dung: Xét thấy yêu cầu tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng của chị C và anh T là có căn cứ chấp nhận theo khoản 1 Điều 14, Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình. Về con chung: Giao cháu Danh Nguyễn L, sinh ngày 22/3/2009 (Theo nguyện vọng cháu L) cho anh T và giao cháu Danh Nguyễn Yến N, sinh ngày 23/5/2011 (Theo nguyện vọng cháu N) cho chị C tiếp tục nuôi dưỡng, không ai phải cấp dưỡng nuôi con. Về T sản chung, nợ và người khác nợ vợ chồng: Không có không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các T liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị C xin ly hôn với anh T, các đương sự có nơi cư trú trên địa bàn huyện An Biên. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang.

Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án các đương sự đã thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án là các bên đều thống nhất chấm dứt quan hệ hôn và giải quyết vấn đề con chung nhưng do các đương sự không có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật nên Tòa án tiến hành đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung.

Về quan hệ hôn nhân: Xét yêu cầu ly hôn của chị C, Hội đồng xét xử xét thấy: Chị C và anh T chung sống với nhau từ năm 2008, không có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán của địa phương và anh chị không thực hiện việc đăng ký kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình, do đó hôn nhân của anh chị không có giá trị pháp lý và không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng, trong quá trình giải quyết vụ án thì chị C và anh T đều thống nhất chấm dứt quan hệ vợ chồng. Căn cứ vào Điều 14 và Điều 53 của Luật hôn nhân gia đình năm 2014, qua thảo luận và nghị án Hội đồng xét xử thống nhất tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị Phà C và anh Danh T.

Về con chung: Chị C và anh T thống nhất xác định có 02 người con chung tên Danh Nguyễn L, sinh ngày 22/3/2009 và Danh Nguyễn Yến N, sinh ngày 23/5/2011, đồng ý giao cháu Danh Nguyễn L (Theo nguyện vọng cháu L) cho anh T và giao cháu Danh Nguyễn Yến N (Theo nguyện vọng cháu Nhi) cho chị C tiếp tục nuôi dưỡng và chăm sóc cho đến tuổi trưởng thành, ghi nhận sự tự nguyện của anh, chị không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Về T sản chung, nợ và người khác nợ vợ chồng: Chị C và anh T thống nhất xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét.

Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Chị C phải nộp toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.

Về ý kiến phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng và đề nghị hướng giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát huyện An Biên là có cơ sở chấp nhận, nên Hội đồng xét xử đã xem xét và ghi nhận trong quá trình giải quyết vụ án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 14 và Điều 53, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; các Điều 144, Điều 147, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị Phà C và anh Danh T.

2. Về con chung: Giao cháu Danh Nguyễn L, sinh ngày 22/3/2009 (Theo nguyện vọng cháu L) cho anh T tiếp tục nuôi dưỡng và chăm sóc cho đến tuổi trưởng thành.Giao cháu Danh Nguyễn Yến N, sinh ngày 23/5/2011 (Theo nguyện vọng cháu Nhi) cho chị C tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến tuổi trưởng thành. Ghi nhận sự tự nguyện của chị C, anh T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản, tuy nhiên chị C, anh T không được lạm dụng quyền thăm nom con. Vì lợi ích của con, khi cần thiết anh, chị có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

3. Về T sản chung, nợ và người khác nợ vợ chồng: Chị C và anh T thống nhất xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Phà C có nghĩa vụ nộp tiền án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ theo biên lai thu số 0004908 ngày 01 tháng 8 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang. Vậy chị Nguyễn Thị Phà C đã nộp xong án phí.

5. Quyền kháng cáo: Án xử công khai, chị C, anh T vắng mặt tại phiên tòa thì được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp Bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành bản án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ