vanban.org

Bản án 39/2023/DSST — Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Kim C.

Buộc chị Lê Thị Kim S có trách nhiệm trả cho bà Lê Thị Kim C số tiền nợ hụi là 94.800.000đ (Chín mươi bốn triệu tám trăm ngàn đồng). Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà người phải thi hành án chưa thi hành án xong, thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải trả lãi th… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "HỤI"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Kim C.
  • Căn cứ chính? Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN V
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 39/2023/DSST
Ngày: 06 – 7 – 2023.
“ V/v Tranh chấp hợp đồng góp hụi”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VŨNG LIÊM, TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Cường.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Bà Nguyễn Thị Hồng Diễm.

2/ Bà Trần Thị Thu Hà.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Tuyết Vân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V không tham gia phiên tòa.

Ngày 06 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện V xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 66/2023/TLST - DS ngày 21 tháng 3 năm 2023 về “Tranh chấp hợp đồng góp hụi”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 98/2023/QĐXX - ST ngày 19 tháng 6 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lê Thị Kim C – sinh năm: 1956 (Vắng, có đơn xin vắng mặt).

Địa chỉ cư trú: ấp Rạch Rô, xã T.C, huyện V, tỉnh Vĩnh Long.

- Bị đơn: 1/ Anh Hà Minh H – sinh năm: 1984 (Vắng mặt).

Địa chỉ cư trú: ấp Rạch Rô, xã T.C, huyện V, tỉnh Vĩnh Long.

2/ Chị Lê Thị Kim S – sinh năm: 1984 (Vắng mặt).

Địa chỉ cư trú: ấp Mướp Sát, xã Trung Hiệp, huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Nguyên đơn bà Lê Thị Kim C trình bày: Bà là chủ thảo các dây hụi có chị Kim S tham gia như Su:

Dây thứ nhất: Hụi 5.000.000đ hụi mùa 04 tháng khui một lần, hụi mở ngày 19/10/2014 gồm có 22 phần (mãn hụi năm 2022), chị Kim S tham gia một phần và kêu hốt ở lần khui thứ 10, Su khi trừ thảo 2.000.000đ bà đã giao đủ tiền cho chị Kim S. Chị Kim S đóng hụi được 03 lần hụi chết rồi ngưng luôn. Bà đã tràng hụi cho chị Kim S 9 x 5.000.000đ = 45.000.000đ.

Dây hụi thứ hai: Hụi 5.000.000đ hụi mùa 04 tháng khui một lần, hụi mở ngày 17/12/2016 gồm có 21 phần (mãn hụi năm 2022), chị Kim S tham gia một phần và kêu hốt ở lần khui thứ 6, Su khi trừ thảo 2.000.000đ bà đã giao đủ tiền cho chị Kim Sa. Chị Kim Sa không đóng hụi chết, bà đã tràng hụi cho chị Kim Sa 15 x 5.000.000đ = 75.000.000đ.

Dây hụi thứ ba: Hụi 3.000.000đ hụi mùa 03 tháng khui một lần, hụi mở ngày 21/4/2017 gồm có 16 phần (mãn hụi năm 2022), chị Kim S tham gia một phần và kêu hốt ở lần khui thứ 5, sau khi trừ thảo 1.200.000đ bà đã giao đủ tiền cho chị Kim Sa. Chị Kim S đóng hụi chết được 08 lần rồi ngưng luôn, bà đã tràng hụi cho chị Kim S 03 x 3.000.000đ = 9.000.000đ.

Tổng cộng qua 03 dây hụi chị Kim S còn nợ bà số tiền 129.000.000đ. Trong khoảng thời gian từ tháng 12/2020 đến tháng 01/2022 chị Kim S có đưa cho bà số tiền 34.200.000đ. Bà khấu trừ cho chị Kim S 129.000.000đ – 34.200.000đ = 94.800.000đ.

Tại phiên tòa bà xin rút lại một phần yêu cầu khởi kiện bà chỉ kiện chị Kim S có trách nhiệm trả cho bà số tiền 94.800.000đ không yêu cầu anh Hà Minh H có trách nhiệm cùng trả.

Tòa án tiến hành triệu tập hợp lệ chị Kim S và anh H lần thứ 02 nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên không có lời trình bày.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Bà Kim C có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long giải quyết tranh chấp hợp đồng góp hụi giữa bà Lê Thị Kim C và anh Hà Minh H, chị Lê Thị Kim S. Theo quy định tại khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vũng Liêm. Tòa án đã triệu tập hợp lệ chị Kim S anh H đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Bà Kim C là chủ thao của 03 dây hụi mùa 02 dây 5.000.000đ và 01 dây hụi 3.000.000đ có chị Kim S tham gia. Cụ thể dây hụi thứ nhất hụi 5.000.000đ chi Kim S tham gia một phần và hốt hụi lần khui thứ 10, Su đó đóng hụi chết được 03 lần rồi ngưng luôn bà Kim C đã tràng hụi cho chị Kim Sa số tiền 45.000.000đ; dây hụi thứ hai cũng là hụi mùa 5.000.000đ chị Kim Sa hốt hụi lần khui thứ 6 không đóng lại hụi chết, dây hụi này bà Kim C đã tràn cho chị Kim Sa số tiền 75.000.000đ; dây hụi thứ ba hụi 3.000.000đ chị Kim S hốt lần khui thứ 5 và bà Kim C đã tràng cho chị Kim S 3 lần là 9.000.000đ. Tổng cộng là 129.000.000đ trừ đi số tiền chị Kim S đã trả là 34.200.000đ còn lại 94.800.000đ. Để chứng minh cho việc này bà Kim C đã nộp danh sách hụi cho Tòa án.

Trong quá trình giải quyết vụ án. Tòa án có tống đạt các văn bản tố tụng và gửi các tài liệu chứng cứ cho chị Kim S anh Minh H nhưng phía chị Kim S anh Minh H vẫn cố tình lánh mặt không đến Tòa án trình bày ý kiến cũng như yêu cầu của mình. Căn cứ vào khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự thì đây là những tình tiết, sự kiện nguyên đơn không phải chứng minh.

Sau khi tham gia hụi bà Kim C là chủ thảo đã thực hiện đúng theo vai trò của chủ thảo là giao hụi cho người hốt hụi là chị Kim Sa. Nhưng sau khi hốt hụi chị Kim Sa không đóng lại hụi chết cho bà Kim C làm cho quyền lợi của bà Kim C bị xâm phạm. Là chủ thảo nên buộc bà Kim C phải có trách nhiệm tràng hụi cho những người hốt hụi phía sau thay cho chị Kim S. Chị Kim S đã được tống đạt trực tiếp thông báo thụ lý vụ án, thông báo phiên hợp và hòa giải và quyết định xét xử lần thứ hai của Tòa án nhưng chị Kim S vẫn không đến Tòa án trình bày có hay việc tham gia hụi với bà Kim C. Đều này đồng nghĩa với việc chị Kim S đã thừa nhận có nợ tiền hụi của bà Kim C vì không có ý kiến phản bác.

Bà Kim C đã rút một phần yêu cầu khởi kiện là không yêu cầu anh Minh H là chồng chị Kim S có trách nhiệm cùng trả số tiền 94.800.000đ. Nên đình chỉ một phấn yêu cầu này của bà Kim C.

Từ những căn cứ nêu trên xác định. Nên đã có đủ cơ sở buộc chị Kim S có trách nhiệm trả cho bà Kim C số tiền 94.800.000đ là có căn cứ phù hợp với quy định tại Điều 471 Bộ luật dân sự.

Án phí sơ thẩm: Buộc Kim S4.740.000đ án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 26, Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Điều 471 Bộ luật dân sự 2015; Điều 35; Điều 39; Điều 217; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 3; Điều 26, Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Kim C.

Buộc chị Lê Thị Kim S có trách nhiệm trả cho bà Lê Thị Kim C số tiền nợ hụi là 94.800.000đ (Chín mươi bốn triệu tám trăm ngàn đồng).

- Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà người phải thi hành án chưa thi hành án xong, thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải trả lãi theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Kim C đối với anh Hà Minh H về việc yêu cầu anh Hà Minh H có trách nhiệm cùng trả nợ với chị Lê Thị Kim S.

- Án phí sơ thẩm:

+ Buộc chị Lê Thị Kim S phải nộp số tiền 4.740.000đ (Bốn triệu bảy trăm bốn mươi ngàn đồng).

+ Bà Lê Thị Kim C không phải nộp án phí.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ