vanban.org

Bản án 39/2022/HSST — Hình sự

TAND TP. Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên Tuyên án 29/07/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Về tội danh và điều luật áp dụng:

Tuyên bố: Bị cáo Trần Ngọc H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Ngọc H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
  • Tòa quyết gì? [1] Về tội danh và điều luật áp dụng:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HƯNG YÊN
TỈNH HƯNG YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 39/2022/HSST
Ngày: 29/7/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HƯNG YÊN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đào Thúy Hà;

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Minh Đức.

2. Bà Nguyễn Thị Hệ.

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Tạ Ngọc Nam, thẩm tra viên Toà án nhân dân thành phố Hưng Yên;

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hưng Yên tham gia phiên toà: Bà Đào Ngọc Dung - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 7 năm 2022, tại trụ s T a án nh n d n thành phố Hưng Yên, t nh Hưng Yên, T a án nh n d n thành phố Hưng Yên xét xử vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 31/2022/HSST ngày 22 tháng 6 năm 2022; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2022/HSST - QĐ ngày 15 tháng 7 năm 2022 đối với bị cáo:

*Trần Ngọc H (tên gọi khác: Không), sinh năm 1990; Hộ khẩu thường trú: Thôn Nh, xã Trần H, huyện L, t nh H; Quốc tịch: Việt Nam; D n tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Trần Đình Ngh và bà Trần Thị C; vợ là Đỗ Thị H và có 01 con sinh năm 2013; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: Ngày 29/9/2014, bị TAND huyện Lý Nhân, t nh Hà Nam xử phạt 30 tháng tù giam về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, ngày 30/8/2016, Trần Ngọc H đã chấp hành xong; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/04/2022, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an t nh Hưng Yên.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 8 giờ 30 phút, ngày 22/04/2022 tại khu vực ngã tư chợ Vị thuộc xã Ph, thành phố H, t nh Hưng Yên. Tổ công tác Công an thành phố Hưng Yên phát hiện, bắt quả tang đối tượng Trần Ngọc H đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.Tại chỗ tổ công tác đã thu giữ trong túi áo khoác bên phải phía trước H đang mặc trên người 01 vỏ bao thuốc lá màu vàng nhãn hiệu “vinataba”, bên trong bao thuốc có 01 túi nilon màu trắng có miệng túi viền màu xanh, bên trong có chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng. H khai nhận túi nilon màu trắng trên chứa ma túy tổng hợp (ma túy đá) của H cất giấu để sử dụng. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng và đưa H về trụ s để làm việc.

Quá trình điều tra Trần Ngọc H khai nhận: Khoảng 07 giờ ngày 22/4/2022, H bắt xe ôm đi từ nhà tại Thôn Nh, xã Trần H, huyện L, t nh H để sang khu vực xã Phương Chiểu, thành phố Hưng Yên để mua ma túy. Khi đi đến khu vực ngã tư đèn giao thông tại QL39A thuộc thôn Phương Thông, xã Phương Chiểu thì H xuống xe đi bộ quanh khu vực ngã tư để tìm người bán ma túy. Một lúc sau, H nhìn thấy một nam thanh niên tự giới thiệu là Dương Năng Pháo huyện Tiên Lữ, t nh Hưng Yên. H hỏi Pháo “anh có ma túy không bán cho em ít”. Pháo hỏi “mua bao nhiêu thì đưa tiền đây”. H đưa Pháo 500.000 đồng thì Pháo đưa lại cho H một bao thuốc lá màu vàng nhãn hiệu “Vinataba” bên trong bao thuốc có một túi nilông màu trắng, miệng túi có viền màu xanh KT 3x3cm, bên trong túi có chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng. H cất bao thuốc lá cùng số ma túy trên vào túi áo khoác đang mặc trên người c n người đàn ông tên Pháo bỏ đi. H đi bộ xuống khu vực ngã tư chợ Vị thuộc thôn Phương Thông, xã Phương Chiểu để tìm xe ôm đi về thì bị lực lượng công an bắt quả tang, thu giữ bao thuốc lá và gói ma túy H vừa mua được. H khai nhận đ y là ma túy đá của H cất giấu để sử dụng.

Ngày 22/04/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Hưng Yên tiến hành khám xét khẩn cấp nơi của Trần Ngọc H tại Thôn Nh, xã Trần H, huyện L, t nh H. Kết quả khám xét không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.

Kết luận giám định số 172/KL-KTHS(MT) ngày 25/04/2022 của Ph ng kỹ thuật hình sự Công an t nh Hưng Yên kết luận: Mẫu chất dạng tinh thể màu trắng trong niêm phong, có khối lượng là 1,006g, là ma túy, loại Methamphetamine. Hoàn lại 0,989g Methamphetamine trong phong bì niêm phong.

Kiểm tra nhanh chất ma túy đối với Trần Ngọc H, kết quả âm tính với nhóm ma túy Methamphetamine.

Tại bản cáo trạng số 32/QĐ-VKS-HS ngày 20/6/2022, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hưng Yên, t nh Hưng Yên đã truy tố bị cáo Trần Ngọc H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa: Bị cáo hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội, đồng ý với cáo trạng Viện kiểm sát nh n d n thành phố Hưng Yên đã truy tố, đồng thời đề nghị HĐXX xem xét bị cáo được hư ng mức án thấp nhất để sớm tr về với gia đình.

Đại diện Viện kiểm sát nh n d n thành phố Hưng Yên luận tội giữ nguyên quyết định đã truy tố hành vi phạm tội của bị cáo theo bản cáo trạng số 32/QĐ-VKS-HS ngày 20/6/2022, đồng thời đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Trần Ngọc H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Xử phạt bị cáo Trần Ngọc H 02 năm 03 tháng đến 02 năm 06 tháng tù năm tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 22/4/2022. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS: Tịch thu cho tiêu hủy toàn bộ số Methamphetamine đã thu giữ của bị cáo do cơ quan giám định hoàn mẫu có tổng trọng lượng là 0,989g Methamphetamine. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tố tụng: Trong giai đoạn điều tra và truy tố, Cơ quan điều tra Công an thành phố Hưng Yên, Viện kiểm sát nh n d n thành phố Hưng Yên và những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục như ban hành các quyết định tố tụng theo quy định của pháp luật tố tụng. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Vì vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; phù hợp với các chứng cứ, tài liệu đã thu thập trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên toà, như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang (BL 26 - 27); Bản kiểm điểm, bản tường trình và Biên bản ghi lời khai của bị cáo (BL 69 - 84); Bản Kết luận giám định số 172/KL-KTHS(MT) ngày 25/4/2022 của Ph ng kỹ thuật hình sự - Công an t nh Hưng Yên (BL 20), cùng với các tài liệu khác có liên quan trong hồ sơ vụ án, đủ căn cứ xác định: Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 22/04/2022, tại khu vực ngã tư chợ Vị thuộc thôn Phương Thông, xã Ph, thành phố H, t nh Hưng Yên, Trần Ngọc H đã có hành vi tàng trữ 1,006 (Một phẩy không không sáu) gam ma túy, loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang. Hành vi của bị cáo đã đủ các yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 nên Viện kiểm sát nhân d n thành phố Hưng Yên đã truy tố bị cáo với tội danh và điều luật nêu trên là chính xác, đúng pháp luật.

[3] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong giai đoạn điều tra, truy tố và tại phiên t a hôm nay bị cáo đều tỏ ra thành khẩn, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội; bố đẻ bị cáo là ông Trần Đình Ngh được Nhà nước CHXHCN Việt Nam tặng thư ng huy chương kháng chiến hạng nhì nên bị cáo được hư ng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

[4] Về quyết định hình phạt: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đã từng bị kết án về tội phạm cùng loại; nhận thức rõ được việc sử dụng chất ma túy có tác hại nghiêm trọng đến sức khỏe cũng như làm suy kiệt về kinh tế, đồng thời là nguyên nh n phát sinh các loại tội phạm khác nhưng vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội thể hiện sự coi thường pháp luật nên cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội trong một thời gian để trừng trị, cải tạo giáo dục riêng đối với bị cáo và làm bài học chung trong công tác đấu tranh ph ng ngừa tội phạm.

[5] Hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo làm nghề lao động tự do, thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Biện pháp tư pháp: Tịch thu cho tiêu hủy toàn bộ số Methamphetamine đã thu giữ của bị cáo do cơ quan giám định hoàn mẫu, có tổng trọng lượng 0,989g.

[7] Án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14;

[8] Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

[1] Về tội danh và điều luật áp dụng:

Tuyên bố: Bị cáo Trần Ngọc H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

[2] Về hình phạt: Xử phạt bị cáo 02 năm 03 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 22/4/2022.

Hình phạt bổ sung: Không áp dụng đối với bị cáo.

[3] Biện pháp tư pháp: điểm a khoản 1 Điều 46; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS.

Tịch thu cho tiêu hủy toàn bộ số Methamphetamine đã thu giữ của bị cáo do cơ quan giám định hoàn mẫu có tổng trọng lượng là 0,989g.

(Chi tiết, đặc điểm, tình trạng vật chứng theo Quyết định chuyển vật chứng số 31/QĐ - VKS ngày 20/6/2022)

[4] Án phí: Áp dụng điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14. Bị cáo Trần Ngọc H phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

[5] Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ