vanban.org

Bản án 39/2022/HSST — Hình sự

TAND huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình Tuyên án 27/07/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội "Trộm cắp tài sản".

Hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D 09 (Chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn D - Bị truy tố tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội "Trộm cắp tài sản".
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KIẾN XƯƠNG
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 39/2022/HSST
Ngày: 27-7- 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN XƯƠNG, TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Thanh Xuân

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Chuyên.

2. Ông Nguyễn Tùng Lâm.

- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Khánh Ly – Thƣ ký Toà án nhân dân huyện Kiến Xƣơng, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 7 năm 2022 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Kiến Xƣơng, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 38/2022/HSST ngày 15 tháng 6 năm 2022 theo quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 40/2022/QĐXXST- HS ngày 08/7/2022 đối với:

1. Bị cáo Nguyễn Văn D, sinh ngày 02/8/1994 tại xã Minh Quang, huyện Kiến Xƣơng, tỉnh Thái Bình;

Nơi cƣ trú: thôn N, xã M, huyện K, tỉnh Thái Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Đức D và bà Nguyễn Thị N; Chƣa có: vợ, con; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất.

Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cƣ trú; có mặt;

2. Bị hại:

- Anh Trần Công C, sinh năm 1972, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt

Nơi cƣ trú: N, xã M, huyện K, tỉnh Thái Bình.

3. Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

- Anh Mai Huy H, sinh năm 1997, vắng mặt

Nơi cƣ trú: thôn N, xã V, huyện V, tỉnh Thái Bình.

4. Ngƣời làm chứng:

Anh Nguyễn Tuấn A, sinh năm 1974, vắng mặt

Anh Trần Văn B, sinh năm 1980, vắng mặt

Nơi cƣ trú: thôn N, xã M, huyện K, tỉnh Thái Bình.

Chị Nguyễn Thị V, sinh năm 1983, vắng mặt

Nơi cƣ trú: thôn Đ, xã H, huyện K, tỉnh Thái Bình.

Anh Lại Văn N, sinh năm 1986, vắng mặt

Nơi cƣ trú: thôn N, xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ ngày 28/3/2022, bị cáo D đi bộ một mình từ nhà đến nhà anh C để ăn cơm. Bị cáo D ngồi ăn cơm và uống rƣợu cùng anh C và anh T. Đến khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, sau khi ăn cơm xong, anh C vào nhà đi ngủ, bị cáo D và anh T đi bộ về nhà anh T ở gần đó. Khoảng 15 phút sau, bị cáo D đi bộ từ nhà anh T đến nhà anh C để hút thuốc lào, đến nơi bị cáo thấy anh C đang nằm ngủ trên giƣờng, điện trong nhà bật sáng, cửa nhà không khóa, ngoài sân có để 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh - đen - bạc, biển kiểm soát 17B7-301.57, chìa khóa cắm ở ổ khóa điện. Quan sát không có ai, bị cáo nảy sinh ý định trộm cắp xe mô tô của anh C để bán lấy tiền chi tiêu cá nhân. Bị cáo D ngồi lên xe mô tô, mở khóa điện, điều khiển xe đi từ sân ra ngoài cổng nhà anh Ch thì gặp anh B đang đi kích cá. Anh B hỏi bị cáo D: “ Mày đi đâu thế”, bị cáo trả lời: “ Em đi ra ngoài quán mua bộ bài” rồi điều khiển xe mô tô vừa trộm cắp đƣợc đi tìm nơi tiêu thụ. Khi đi đến cánh đồng gần ngã tƣ thôn Trà Đông, xã Quang Trung, huyện Kiến Xƣơng, bị cáo tháo 02 gƣơng chiếu hậu của xe mô tô ném xuống ruộng rồi điều khiển xe mô tô đến quán karaoke Biên Thủy ở thôn Đoài, xã Hòa Bình huyện Kiến Xƣơng do chị V làm chủ. Gặp chị V, bị cáo nói: “Em muốn cắm chiếc xe này, chị biết chỗ nào không chỉ em với”, chị V trả lời: “Xe của ai”, bị cáo nói: “Xe này là của em, em cần tiền nên muốn cắm”, chị V nói: “Để chị xem”. Chị V gọi điện thoại cho anh H đến để xem xe. Trong lúc chờ anh H đến, bị cáo dùng tay giật biển kiểm soát của xe mô tô vừa trộm cắp đƣợc rồi để ở sân nhà chị V, chị V sợ có ngƣời đi qua đi lại lấy nên cầm biển kiểm soát của xe để vào quầy lễ tân của quán. Khi gặp anh H chị V nói: “Đứa em này muốm mƣợn tiền, nhà nó ở gần nhà chồng chị, em xem giúp đƣợc thì giúp nó” rồi chị V đi bƣng bê đồ cho khách. Anh H hỏi bị cáo D: “Anh muốn mƣợn tiền à, có gì để lại không”, bị cáo trả lời: “Em để lại cái xe”, anh H hỏi tiếp: “Giấy tờ xe đâu”, bị cáo trả lời: “Giấy tờ xe vợ em cầm”, anh H nói: “Vậy thì tôi không giúp đƣợc”. Chị V đi ra nghe thấy anh H nói vậy nên nói với anh H: “Em xem giúp nó đƣợc thì giúp, nhà cửa bố mẹ nó chị biết”. Anh H đồng ý cho bị cáo vay tiền rồi đi ra xem xe. Khi nhìn xe anh H hỏi bị cáo: “Biển số xe đâu”, bị cáo trả lời: “Em đi đêm nên tháo biển số ra để ở nhà”, anh H nói: “Anh muốn mƣợn bao nhiêu”, bị cáo đáp: “khoảng 5 triệu”, anh H trả lời: “Tôi chỉ có ba triệu rƣỡi thôi”, bị cáo đồng ý. Anh H cho bị cáo D vay 3,5 triệu đồng và hẹn bị cáo ba đến bảy ngày sau phải trả tiền anh H. Sau đó anh H điều khiển xe mô tô trên đi về phòng trọ của mình ở thôn Đông Lâu, xã Bình Nguyên, huyện Kiến Xƣơng, bị cáo đi về nhà và đã chi tiêu cá nhân hết số tiền 3.500.000đồng.

Kết luận định giá tài sản số 08/KL - HĐĐG ngày 01/4/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Kiến Xƣơng kết luận: Tại thời điểm ngày 29/3/2022, 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh -đen -bạc, biển kiểm soát 17B7- 301.57, số khung : 3902HY373317, số máy: JA39E0373422, đăng ký năm 2017 có giá trị 12.500.000 đồng.

Kết luận giám định số 39/KL-PC ngày 10/4/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận: xe mô tô, dán nhãn hiệu Honda Wave, sơn màu xanh đen bạc, không có biển kiểm soát. Hàng chữ, chữ số RLHJA 3902HY373317 đóng dƣới cốp xe không bị tẩy xóa, sửa chữa, đục lại. Hàng chữ, chữ số JA 39E-0373422 đóng trên thân máy không bị tẩy xóa, sửa chữa, đục lại.

Vật chứng của vụ án:

- Ngày 24/5/2022, Cơ quan điều tra Công an huyện Kiến Xƣơng đã trả lại cho anh Trần Công C 01 Honda Wave màu xanh- đen -bạc, biển kiểm soát 17B7-301.57.

Về trách nhiệm dân sự:

Anh C đã nhận lại xe mô tô của mình bị mất, tự khắc phục 02 gƣơng chiếu hậu của xe, bị cáo D đã trả anh Hào số tiền 3.500.000đồng, anh C và anh H đều không có yêu cầu gì khác về trách nhiệm dân sự.

- Tại bản Cáo trạng số 42/CT -VKSKX ngày 15/6/2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xƣơng, tỉnh Thái Bình đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn D về tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xƣơng, tỉnh Thái Bình vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn D về tội "Trộm cắp tài sản" và đề nghị:

Áp dụng khoản 1 Điều 173, Điều 38, Điều 50, điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo D mức án từ 09 đến 12 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo D.

Đối với anh Hào là ngƣời cho bị cáo D vay số tiền 3.500.000đồng và nhận cầm cố xe mô tô bị cáo trộm cắp đƣợc. Anh H không hứa hẹn trƣớc với bị cáo, không biết nguồn gốc xe máy do bị cáo trộm cắp đƣợc mà có, không đƣợc hƣởng lợi gì từ việc cho vay nên không cấu thành tội “Chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do ngƣời khác phạm tội mà có”. Anh H không đăng ký ngành, nghề đầu tƣ kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự mà cho vay tiền có cẩm cố tài sản, Chủ tịch UBND huyện Kiến Xƣơng đã xử lý hành chính đối với anh H là phù hợp quy định của pháp luật.

Đối với chị V là ngƣời gọi điện thoại cho anh H đến cho bị cáo D vay tiền. Chị V không biết nguồn gốc xe của bị cáo D, không đƣợc hƣởng lợi từ việc anh H cho bị cáo D vay tiền nên không có căn cứ để xử lý.

Về trách nhiệm dân sự: anh C đã nhận lại tài sản, bị cáo D đã hoàn trả anh H số tiền vay là 3.500.000đồng, anh H và anh C không yêu cầu gì khác nên không đặt ra giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra Công an huyện Kiến Xƣơng đã trả lại chiếc xe mô tô cho anh C.

Tại phiên tòa bị cáo D không tranh luận gì và không nói lời sau cùng.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Kiến Xƣơng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xƣơng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa những ngƣời tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời có thẩm quyền tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Tại phiên toà hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với đơn trình báo và lời khai của bị hại, lời khai của ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, lời khai của ngƣời làm chứng, biên bản giao nhận tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử, kết luận định giá tài sản số 08/KL - HĐĐG ngày 01/4/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Kiến Xƣơng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Vì vậy có đủ căn cứ xác định: Khoảng 21 giờ ngày 28/3/2020, bị cáo Nguyễn Văn D đã lợi dung sơ hở, trộm cắp 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh đen bạc, biển kiểm soát 17B7- 301.57 trị giá 12.500.000 đồng của anh Trần Công C.

Hội đồng xét xử kết luận: bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội "Trộm cắp tài sản". Tội phạm và hình phạt đƣợc quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự (sau đây viết tắt là BLHS).

Điều 173. Tội trộm cắp tài sản

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các Duy hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

…

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”.

Bị cáo là ngƣời có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết hậu quả của hành vi do mình thực hiện nhƣng vì lƣời lao động mà vẫn muốn có tiền tiêu xài nên đã lợi dụng sơ hở khi anh C đang ngủ để trộm cắp tài sản. Đồng thời khi bị cáo điều khiển xe máy trộm cắp ra đến cổng nhà anh C đã gặp anh B nhƣng bị cáo vẫn nói dối anh B để tiếp tục điều khiển xe máy đi chứng tỏ bị cáo đã cố ý trộm cắp tài sản đến cùng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản công dân đƣợc pháp luật bảo vệ, xâm phạm trật tự công cộng, gây mất trật tự an ninh tại địa phƣơng. Vì vậy cần phải xử phạt mức án thật nghiêm khắc, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục, cải tạo đối với bị cáo, phòng ngừa và răn đe tội phạm nói chung.

Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thì thấy:

Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt cũng cần xét đến trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo và phạm tội lần đầu thuộc trƣờng hợp ít nghiêm trọng - là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo là thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Do bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng

Xét thấy, Cơ quan điều tra Công an huyện Kiến Xƣơng đã trả lại tài sản cho anh Ch và anh C không yêu cầu bị cáo phải bồi thƣờng, bị cáo đã trả anh H số tiền vay là 3.500.000đồng, anh H không yêu cầu gì khác nên Tòa án không đặt ra giải quyết về trách nhiệm dân sự giữa bị cáo với bị hại và ngƣời có quyền lợi liên quan.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn D phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, Điều 38, Điều 50, điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự; Điều 135, 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội "Trộm cắp tài sản".

2. Hình phạt:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D 09 (Chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án;

3. Án phí: Bị cáo Nguyễn Văn D phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 27/7/2022; bị hại và ngƣời có quyền và nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết./

Cỡ chữ