vanban.org

Bản án 39/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Cửa Lò, tỉnh Nghệ An Tuyên án 29/11/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hình phạt: Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt: bị cáo Nguyễn Đình A 02 (Hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo (ngày 24/9/2022). Về trách nhiệm dân sự: áp dụng Điều 584, 585 Bộ luật Dân sự buộc bị cáo Nguyễn Đình A phải bồi thường cho anh Lê Văn C số tiền 2.000.000đ (Hai t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đình An- Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về hình phạt: Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ CỬA LÒ
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 39/2022/HS- ST
Ngày: 29/11/2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CỬA LÒ- TỈNH NGHỆ AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: ông Hoàng Thế Lan

Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Hồng Sơn.

bà Nguyễn Thị Phương.

Thư ký phiên toà: bà Nguyễn Thị Thu Hiền- Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cửa Lò tham gia phiên tòa: bà Phan Thị Vân Anh- kiểm sát viên.

Ngày 29/11/2022, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 40/2022/TLST- HS ngày 18 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 97/2022/QĐXXST- HS ngày 18 tháng 11 năm 2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Đình A; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: không. Sinh ngày 24 tháng 3 năm 1986 tại thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An. Nơi ĐKHKTT: khối 5, phường Nghi Tân, thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An. Nơi ở hiện nay: khối 1, phường Nghi Tân, thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An. Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không. Trình độ học vấn: 3/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Họ và tên cha: Nguyễn Hồng T, sinh năm 1948 (đã chết). Họ và tên mẹ: Đinh Thị L, sinh năm 1951. Anh chị em: gia đình có 05 anh em, bị cáo là con thứ 4. Vợ: Lê Thị V (đã ly hôn) và có 01 con 7 tuổi.

Tiền án: Ngày 09/4/2020, bị Toà án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt vào ngày 05/12/2020.

Năm 2021 bị Tòa án nhân dân thị xã Cửa Lò, Nghệ An xử phạt 9 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành án xong ngày 21/5/2022.

Tiền sự: Không.

Nhân thân:

- Năm 2002, bị Công an phường Nghi Tân, thị xã Cửa Lò xử lý vi phạm hành chính về hành vi cố ý gây thương tích.

- Năm 2017, bị Toà án nhân dân thị xã Cửa Lò ra Quyết định áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc với thời hạn 12 tháng, đã chấp hành xong.

Bị cáo Nguyễn Đình A bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/9/2022 cho đến nay tại trại tạm giam Công an tỉnh Nghệ An, có mặt tại phiên tòa.

* Người bị hại: anh Nguyễn Văn Tr, sinh năm 1974.

Địa chỉ: khối 3, phường Thu Thủy, thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

* Người có quyền và nghĩa vụ liên quan:

- anh Nguyễn Hữu C1, sinh năm 1980

Trú tại: khối Trung Thanh, phường Nghi Hải, thị xã Cửa Lò, Nghệ An. Vắng mặt.

- anh Lê Văn C, sinh năm 1980

Trú tại: xóm 1, xã Nghi Thịnh, huyện Nghi Lộc, Nghệ An. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 01/9/2022, Nguyễn Đình An điều khiển xe máy BKS 59S1- 22064 nhãn hiệu Wave màu đen đi lang thang trên địa bàn phường Thu Thủy, thị xã Cửa Lò. Khi đi đến khu vực nhà anh Nguyễn Văn Tr, sinh năm 1974, trú tại khối 3, phường Thu Thủy, thị xã Cửa Lò, A phát hiện thấy cửa cổng không khóa, không có ai ở trước nhà và ở sân có để máy móc đồ cơ khí nên A dừng xe đi bộ vào lấy trộm một máy cắt thủy lực nhãn hiệu HANDY- 25C của Hàn Quốc và 01 máy cắt sắt nhãn hiệu OSUKA. Sau đó A đưa số tài sản này đến cửa hàng sửa đồ điện của anh Nguyễn Hữu C1, trú tại khối Trung Thanh, phường Nghi Hải, thị xã Cửa Lò bán cho anh C1 máy cắt sắt với giá 200.000đ. Nguyễn Đình A tiếp tục đi đến phường Nghi Hòa, thị xã Cửa Lò bán cho anh Lê Văn C, sinh năm 1980, trú tại xóm 1, xã Nghi Thịnh, Nghi Lộc, Nghệ A đang làm thép cho một nhà ở đây. Nguyễn Đình A vào hỏi anh C “Có mua máy cắt sắt thủy lực không ? Anh Lê Văn C có hỏi “Máy của ai ?”, A nói “Máy của mình không sử dụng nên bán”. Lê Văn C đồng ý mua với giá 2.000.000đ (Hai triệu đồng). Số tiền có được A đã tiêu xài cá nhân hết.

Tại kết luận định giá tài sản số 06 ngày 29/9/2022 của Hội đồng định giá tài sản UBND thị xã Cửa Lò, kết luận:

- 01 (Một) máy cắt sắt, nhãn hiệu OSUKA giá trị tại thời điểm định giá là 800.000đ (Tám trăm ngàn đồng).

- 01 (Một) máy cắt sắt thủy lực nhãn hiệu HANDY- 25C của Hàn Quốc, giá trị tại thời điểm định giá là 6.700.000đ (Sáu triệu, bảy trăm ngàn đồng).

Tổng giá trị tài sản là 7.500.000 đ (Bảy triệu, năm trăm ngàn đồng)

Về vật chứng thu giữ:

- 01 (Một) máy cắt sắt, nhãn hiệu OSUKA;

- 01 (Một) máy cắt sắt thủy lực nhãn hiệu HANDY- 25C của Hàn Quốc;

- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đen, BKS 59 S1- 22064, số khung 120XBY- 104233 đã qua sử dụng. Các vật chứng đã được trả lại cho chủ sở hữu.

Tại bản cáo trạng số 40/CT-VKS-CL ngày 17/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cửa Lò đã truy tố Nguyễn Đình A về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cửa Lò giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm Điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt Nguyễn Đình A từ 27 đến 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Về trách nhiệm dân sự: áp dụng điều 584, 585 BLDS buộc bị cáo An phải bồi thường cho anh Lê Văn C số tiền 2.000.000đ. Về án phí: đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo không tranh luận gì mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra công an thị xã Cửa Lò, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cửa Lò, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều được thực hiện hợp pháp.

. Về việc vắng mặt của bị hại và người liên quan: Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ giấy triệu tập phiên tòa cho bị hại và người liên quan; mặt khác lời khai của họ đã đầy đủ tại hồ sơ, bị hại đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì. Việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử; do đó Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng Hình sự xét xử vắng mặt bị hại và người liên quan.

. Về căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã quy kết. Xét, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai nhận của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, người liên quan, vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đủ cơ sở để kết luận:

Vào khoảng 14 giờ 00 phút, ngày 01/9/ 2022, lợi dụng sơ hở trong việc quản lý tài sản của anh Nguyễn Văn Tr (trú tại khối 3, phường Thu Thủy, thị xã Cửa Lò), Nguyễn Đình A đã có hành vi chiếm đoạt tài sản gồm 01 máy cắt sắt nhãn hiệu OSUKA và 01 máy cắt sắt thủy lực nhãn hiệu HANDY- 25C của Hàn Quốc. Tổng giá trị tài sản Nguyễn Đình A chiếm đoạt là 7.500.000đ.

Bị cáo Nguyễn Đình A có hai tiền án chưa được xóa án tích, nay phạm tội do cố ý. Hành vi trên của bị cáo Nguyễn Đình A đã đủ yếu tố cấu thành tội "Trộm cắp tài sản" được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

. Về tính chất vụ án, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Vụ án thuộc Tr hợp nghiêm trọng, nhưng hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo đã lén lút chiếm đoạt tài sản người bị hại. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chế độ sở hữu tài sản của công dân được Nhà nước bảo vệ; gây hoang mang trong quần chúng nhân dân nói riêng, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự xã hội trên địa bàn nói chung. Bản thân bị cáo đang có tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích nên cần lên một mức án nghiêm khắc và áp dụng hình phạt tù để nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Đình A thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội đã đầu thú và có bố đẻ của bị cáo được Nhà nước tặng thưởng huy chương kháng chiến chống Mỹ nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có công việc ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại trong vụ án là anh Nguyễn Văn Tr đã nhận lại tài sản, đến nay không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét. Đối với người liên quan anh Nguyễn Hữu C1 không yêu cầu bồi thương số tiền mua máy nên hội đồng xét xử không xem xét. Đối với yêu cầu trả lại số tiền 2,000.000đ của anh Lê Văn C là người đã mua máy do bị cáo phạm tội mà có, khi mua máy anh C đã hỏi bị cáo về nguồn gốc của máy nhưng bị cáo đã nói dối với anh để anh C mua, Tr hợp mua bán này anh C không có lỗi. Máy đã được thu hồi trả lại cho chủ sở hữu. Do vậy yêu cầu của anh Lê Văn C có căn cứ nghĩ nên chấp nhận.

. Về vật chứng: Vật chứng đã được trả lại cho người bị hại.

. Đối với chiếc xe mô tô BKS 59S1- 22064 quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô là của bà Đinh Thị L (là mẹ của bị cáo Nguyễn Đình A). Bị cáo sử dụng chiếc xe đi trộm cắp bà L không biết nên cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Cửa Lò đã trả lại cho chủ sở hữu là đúng pháp luật.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về hình phạt: Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt: bị cáo Nguyễn Đình A 02 (Hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo (ngày 24/9/2022).

2. Về trách nhiệm dân sự: áp dụng Điều 584, 585 Bộ luật Dân sự buộc bị cáo Nguyễn Đình A phải bồi thường cho anh Lê Văn C số tiền 2.000.000đ (Hai triệu đồng).

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 3 Điều 21, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Nguyễn Đình A phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000đ án phí dân sự trong hình sự.

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại điều 6, điều 7 và điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú./

Cỡ chữ