vanban.org

Bản án 39/2022/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Ninh Bình Tuyên án 29/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Minh P1 phạm tội “Giết người”.

Xử phạt: Bị cáo Hoàng Minh P1 20 (hai mươi) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 08/6/2022. Trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Hoàng Minh P1 phải có trách nhiệm bồi thường cho gia đình bị hại các khoản sau: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Minh P phạm tội Giết người - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Minh P1 phạm tội “Giết người”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự xử lý các vật chứng; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 123 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 39/2022/HS-ST
Ngày 29 - 12 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Thảo

Thẩm phán:

Ông Nguyễn Đức Hiệp

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Chu Văn Kiêm

Ông Đinh Mạnh Huy

Bà Nguyễn Thị Luyến

- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Hoài Thu - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình tham gia phiên tòa: Ông Đặng Cao Sơn - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 12 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 30/2022/TLST-HS ngày 28 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2022/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:

Hoàng Minh P1, sinh năm 1985 tại huyện Q, tỉnh Quảng Nam. Nơi cư trú: thôn T, xã L, huyện Q, tỉnh Quảng Nam; nghề nghiệp lao động tự do; trình độ văn hoá 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn L và bà Nguyễn Thị H; có vợ Đỗ Thái Kim D (đã ly hôn) và 01 con; tiền án: Không; tiền sự: có 02 tiền sự:

- Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 38/2018/QĐXPHC ngày 12/6/2018 của Công an huyện Q, tỉnh Quảng Nam xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền 3.000.000 đồng về hành vi “Xâm hại sức khỏe của người khác”.

- Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 90/2021/QĐXPHC ngày 04/11/2021 của Công an huyện Q, tỉnh Quảng Nam xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền 4.000.000 đồng về các hành vi “Xâm hại sức khỏe của người khác” và “Hủy hoại tài sản của người khác”.

Bị cáo chưa chấp hành các Quyết định xử phạt vi phạm hành chính trên; nhân thân:

- Tại Quyết định số 3602/QĐ-UBND ngày 26/9/2005 bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam xử phạt hành chính bằng hình thức đưa vào cơ sở giáo dục 24 tháng về hành vi “Nhiều lần đánh người gây thương tích”, Hoàng Minh P1 chấp hành xong ngày 05/10/2007.

- Tại bản án hình sự sơ thẩm số 30/2013/HSST ngày 07/8/2013 của Tòa án nhân dân huyện Q, tỉnh Quảng Nam xử phạt Hoàng Minh P1 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 02/10/2013, nộp xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 23/10/2013.

Bị bắt, tạm giữ từ ngày 08/6/2022 đến ngày 17/6/2022 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình (có mặt).

- Người bào chữa cho bị cáo theo chỉ định: Ông Phạm Đức H1 - Luật sư văn phòng luật sư Đức H1 thuộc Đoàn luật sư tỉnh Ninh Bình. Địa chỉ: Số nhà ..., ngõ 16... đường T, phố P, phường P, thành phố N, tỉnh Ninh Bình (vắng mặt có gửi bài bào chữa cho bị cáo).

- Bị hại: Anh Trần Phước H2, sinh năm 1985; nơi cư trú: thôn T, xã L , huyện Q, tỉnh Quảng Nam (đã chết ngày 08/6/2022)

- Người đại diện hợp pháp của bị hại:

1. Ông Trần Minh P2 (Trần Phước P2), sinh năm 1958 và bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1958 (là bố, mẹ đẻ của anh Trần Phước H2)

2. Chị Nguyễn Thị S, sinh năm 1990 (là vợ của anh Trần Phước H2)

Đều cư trú: thôn T, xã L, huyện Q, tỉnh Quảng Nam.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Cháu Trần Phước T1, sinh ngày 25/3/2019.

Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị Nguyễn Thị S, sinh năm 1990 (là mẹ đẻ của cháu T1).

Đều cư trú: thôn T, xã L, huyện Q, tỉnh Quảng Nam.

- Người đại diện theo ủy quyền của người đại diện hợp pháp của bị hại: Anh Trần Phước H3, sinh năm 1987; nơi cư trú: thôn T, xã L, huyện Q, tỉnh Quảng Nam (theo giấy ủy quyền ngày 26/8/2022) (có mặt).

Tại phiên tòa bà V, chị S có mặt. Ông P2, cháu T1 vắng mặt.

- Người chứng kiến: Anh Trương Thái B, sinh năm 1994; anh Tử Bá H4, sinh năm 1988; anh Lê Quang N, anh Bùi Văn T2, sinh năm 1974; anh Bùi Văn T3, sinh năm 1991; ông Bùi Văn C, sinh năm 1963 (đều vắng mặt không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hoàng Minh Ph1 là người không có việc làm ổn định, đầu năm 2022, P1 được bạn là anh Trần Phước H2 là lái xe ô tô cho Công ty TNHH phát triển dịch vụ vận tải T có địa chỉ tại huyện T, thành phố Hà Nội thuê đi làm phụ xe với tiền công là 2.000.000 đồng/chuyến. Khoảng 16 giờ ngày 07/6/2022, anh H2 lái xe ô tô hiệu HINO biển kiểm soát 29LD-316.... đi trả hàng cùng với P1 sau đó lái xe ô tô về đỗ tại khu đất trống giáp đường 477 cạnh nhà của anh Bùi Văn T2 sau đó đi vào nhà hàng “T” của anh Bùi Văn T3 (giáp nhà anh T2) để ăn uống. Cùng lúc này bạn của anh H2 là anh Trương Thái B lái xe ô tô hiệu ISUZU biển kiểm soát 29LD-317... của Công ty TNHH T đi cùng với anh B là anh Tử Bá H4 cũng đi về đỗ bên cạnh xe ô tô của anh H2 và đi vào trong quán cùng ngồi ăn uống với anh H2 và P1. Trong khi ăn anh B gọi điện mời bạn là anh Lê Quang N đến, một lúc sau anh N lái xe ô tô biển kiểm soát 35A-152.... đi đến nhà hàng “T” cùng ngồi ăn cơm, uống rượu với anh H2, anh H3, anh B và P1. Ăn uống xong khoảng 19 giờ 30 phút anh H2 rủ cả nhóm đi hát Karaoke, tất cả đều đồng ý sau đó anh N lái xe ô tô chở anh B, anh H2, anh H3 và P1 đến quán Karaoke “S” của anh Nguyễn Quốc H5, sinh năm 1983 tại khu Quảng Trường trung tâm tại đường H, phường K, thành phố N, tỉnh Ninh Bình để hát Karaoke và uống bia. Hát đến 22 giờ 09 phút thì tất cả đi xuống quầy lễ tân, tại đây anh H2 bảo P1 chuyển số tiền 1.254.000 đồng để thanh toán tiền hát, P1 nói “Sao bao nhiêu người chơi mà bắt mình tao chịu” rồi bỏ đi ra ngoài, anh H2 đi vào thanh toán tiền sau đó cùng với anh B, anh H4 lên xe ô tô của anh N đi về nhà hàng “T”. Về đến nơi anh H2 đứng sau xe ô tô biển kiểm soát 29LD-316.... chờ P1, anh B và anh H4 lên ca bin xe ô tô biển kiểm soát 29LD-317... chốt cửa đi ngủ, còn anh N lái xe ô tô đi về nhà.

Khoảng 23 giờ thấy P1 đi xe taxi về anh H2 nói “sao đi chơi không chung tiền, lại bỏ về một mình”, P1 nói “giờ tao say rồi, để tao ngủ mai mốt dậy tính” và đi về cửa phụ xe ô tô biển kiểm soát 29LD-316...., anh H2 liền đi theo sau, thấy P1 mở cửa xe bước lên bậc lên xuống thì anh H2 dùng tay túm cổ áo phía sau kéo làm P1 bị ngã ngồi xuống đất, P1 vùng dậy đi đến cửa phụ xe ô tô lấy 01 chiếc kéo bằng kim loại dài 24 cm ở dưới tấm lót sàn xe sau đó quay người đâm về phía anh H2 nhưng không trúng làm kéo văng rơi xuống đất, thấy vậy anh H2 liền bỏ chạy lên phía trước đầu xe ô tô biển kiểm soát 29LD -316...., P1 tiếp tục lấy 01 con dao nhọn lưỡi bằng kim loại dài 18 cm để ở dưới tấm lót sàn xe chạy đuổi theo anh H2. Khi đi đến cách anh H2 khoảng 50 cm P1 cầm dao tay phải đâm 01 nhát trúng vào phần lưng dưới bả vai trái của anh H2 làm anh H2 ngã xuống đất, anh H2 bò đến trước đầu xe ôtô biển kiểm soát 29LD-316.... và nằm gục tại đó. Sau khi đâm anh H2, P1 cầm dao bỏ đi ra bãi đất trống của gia đình ông Bùi Văn C cách bãi đỗ xe ô tô khoảng 40m vứt dao xuống ruộng rau và nằm tại đó.

Nghe thấy có tiếng ồn ào, cãi chửi nhau trong đêm người dân ở trong quán và ở quanh khu vực nhà hàng “T” thức dậy đi ra thấy anh H2 đang nằm gục trước đầu xe ô tô biển kiểm soát 29LD-316...., mọi người đã gọi anh H4, anh B dậy cùng đưa anh H2 đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Ninh Bình. Do vết thương quá nặng đến 02 giờ ngày 08/6/2022 anh Trần Phước H2 đã tử vong còn Hoàng Minh P1 sau khi tỉnh lại đã đến Công an thành phố N, tỉnh Ninh Bình đầu thú.

Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Ninh Bình đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, thực hiện thực nghiệm điều tra theo quy định của pháp luật.

Kết quả khám nghiệm tử thi:

Hồi 09 giờ 00 phút ngày 08/6/2022 tại Nhà xác Bệnh viện đa khoa tỉnh Ninh Bình đã tiến hành khám nghiệm tử thi là anh Trần Phước H2 kết quả như sau:

- Khám ngoài: “Vùng đầu, vùng cổ, răng và xương hàm không có dấu vết tổn thương. Vùng bả vai trái có vết rách da KT (5,7x1,5) cm, chiều vết thương từ trên xuống dưới, từ sau ra trước, từ trái qua phải, bờ mép sắc gọn, đầu trong nhọn, đầu ngoài tù. Mặt trước trong gối trái, phải đều có vết xây sát da KT (04x03) cm và (03x02) cm.

- Mổ tử thi: “Vết rách da vùng bả vai trái tạo thành 01 rãnh thương xuyên thấu, sâu 17,5 cm, đứt rãnh cơ liên sườn 4-5 phía sau bên trái, xuyên thấu thùy trên phổi trái, đứt bán phần động mạch chủ ngực. Khoang ngực 02 bên có khoảng 1900ml máu đông lẫn không đông”.

Trong và sau khi khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi Cơ quan điều tra đã lấy mẫu vật (nước tiểu) của anh Trần Phước H2, mẫu máu để trên hiện trường và con dao thu giữ tại hiện trường gửi đi giám định. Đối với Hoàng Minh P1, Cơ quan điều tra đã lấy mẫu nước tiểu và tiến hành xét nghiệm sinh hóa máu, kết quả như sau:

Kết luận giám định:

Tại Kết luận giám định pháp y về tử thi số 434/KL-KTHS-PY ngày 14/6/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình kết luận: “Nồng độ cồn trong máu của Trần Phước H2: 53mg/100ml. Nguyên nhân chết của anh Trần Phước H2: Mất máu cấp do vết thương xuyên thấu từ ngoài bả vai vào trong khoang ngực làm rách thủng nhu mô phổi, đứt bán phần động mạch chủ ngực. Cơ chế hình thành tổn thương trên nạn nhân Trần Phước H2 do vật sắc nhọn có một lưỡi gây nên”.

Tại Kết luận giám định số 441/KL-KTHS-MT ngày 16/6/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình kết luận: “Tìm thấy Methamphetamine và Ketamine trong mẫu nước tiểu thu của Hoàng Minh P1, sinh năm 1985 trú tại xã L, huyện Q, tỉnh Quảng Nam (ký hiệu M1) và trong mẫu nước tiểu thu của tử thi Trần Phước H2, sinh năm 1985 địa chỉ thường trú trước khi chết xã L, huyện Q, tỉnh Quảng Nam (ký hiệu M2) gửi giám định”.

Tại Phiếu xét nghiệm sinh hóa máu ngày 09/6/2022 của Bệnh viện đa khoa tỉnh Ninh Bình, kết luận: “Nồng độ cồn trong máu của Hoàng Minh P1 là 39,3mg/100ml”.

Tại Kết luận giám định số 3698/KL-KTHS ngày 08/7/2022 của Viện khoa học hình sự Bộ Công an kết luận: “Trên 01 con dao gửi giám định phát hiện thấy một số dấu vết đường vân, các dấu vết này mờ nhòe, không đủ yếu tố giám định”

Tại Kết luận giám định số 3798/KL-KTHS ngày 21/6/2022 của Viện khoa học hình sự Bộ Công an kết luận: “Dấu vết màu nâu đỏ trên con dao cùng các mẫu dị vật màu nâu đỏ ký hiệu A2, A3, A4 là máu người và đều là máu của Trần Phước H2”.

Ngày 08/6/2022, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Ninh Bình đã trích xuất thu giữ hình ảnh trong 04 camera của nhà hàng “T” để gửi đi giám định. Tại Kết luận giám định số 672/KL-KTHS-KTS&ĐT ngày 19/9/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình kết luận: “Không phát hiện dấu vết cắt ghép chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong 05 tệp tin lưu trữ trong USB gửi giám định. Trích xuất được 20 ảnh mô tả diễn biến nội dung trong 05 tệp tin video lưu trữ trong USB gửi giám định. Sao lưu 05 tệp tin video lưu trữ trong USB gửi giám định sang 02 đĩa DVD-R”.

Trách nhiệm dân sự:

Anh Trần Phước H2 là con thứ nhất trong gia đình gồm có bố đẻ ông Trần Phước P2, mẹ đẻ bà Nguyễn Thị V, vợ là chị Nguyễn Thị S và con là Trần Phước T1, sinh ngày 25/3/2019. Anh Trần Phước H2 ký Hợp đồng lao động lái xe ô tô tải hiệu HINO, biển kiểm soát 29LD-316.... cho Công ty TNHH phát triển dịch vụ vận tải T từ ngày 26/02/2022 đến ngày 28/02/2023, mức lương và phụ cấp là 8.500.000 đồng/tháng, ngày công lao động tại xã L, huyện Q, tỉnh Quảng Nam là 70.000.000 đồng/người/năm. Hoàng Minh P1 không đứng tên sở hữu nhà, đất tài sản trên địa bàn xã L, huyện Q, tỉnh Quảng Nam.

Quá trình điều tra anh Trần Phước H3 là em trai ruột của anh Trần Phước H2 là người được ông Trần Phước P2, bà Nguyễn Thị V, chị Nguyễn Thị S ủy quyền tham gia tố tụng. Anh Trần Phước H3 yêu cầu bị can Hoàng Minh P1 bồi thường số tiền chi phí cấp cứu, tiền mai táng phí là 76.226.000 đồng (có giấy tờ, hóa đơn kèm theo). Ngoài ra anh H3 còn đề nghị bồi thường các khoản tổn thất, chi phí khác theo quy định của pháp luật. Bị can Hoàng Minh P1 và gia đình nêu ý kiến sẽ bồi thường cho gia đình bị hại khi xét xử vụ án.

Thu giữ và xử lý vật chứng:

Hoàng Minh P1 khi ra đầu thú đã giao nộp cho Cơ quan điều tra 01 thẻ CCCD mang tên Hoàng Minh P1, 03 điện thoại di động (điện thoại VIVO 1916 số sim 0787.972.716; điện thoại di động USMAXT; điện thoại NOKIA 105), kiểm tra không có nội dung gì liên quan đến vụ án.

Quá trình điều tra tạm giữ: 02 xe ô tô gồm: ô tô tải hiệu HINO, biển kiểm soát 29LD-316.... và ô tô tải hiệu ISUZU, biển kiểm soát 29LD-317.... cùng toàn bộ giấy tờ liên quan đến 02 xe ô tô của Công ty TNHH phát triển dịch vụ vận tải T.

Ngoài ra còn thu giữ: 01 dao kim loại dài 32 cm; 01 kéo kim loại dài 24 cm; 01 túi sợi tổng hợp màu đen (bao) dài 32 cm; 01 đôi dép nhựa màu nâu; 01 hộp nhữ màu trắng KT (8,5x6x3,5) cm, bên trong có 03 ống hình trụ và 01 nắp chai nhựa; 01 hộ chiếu mang tên Hoàng Minh P1; 01 áo phông cộc tay cổ tròn màu trắng, thân áo bám dính máu, bả vai trái cách cổ áo 8,5 cm, cách đường chỉ ngoài 8,3 cm có vết rách vải dài 2,5 cm, vết rách sắc gọn, xiên chếch từ trái qua phải. Vùng lưng áo trái cách đường chỉ ngoài 0,5 cm, cách cổ áo 19 cm có 02 vết rách vải cạnh nhau cách nhau 1,5 cm, mép tương đối sắc gọn.

Ngày 15/6/2022, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Ninh Bình đã ra Quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu: Trả lại 02 chiếc xe ô tô gồm: ô tô tải hiệu HINO, biển kiểm soát 29LD-316.... và ô tô tải hiệu ISUZU, biển kiểm soát 29LD-317.... cùng toàn bộ giấy tờ liên quan cho Công ty TNHH phát triển dịch vụ vận tải T.

Tại bản cáo trạng số 17/CT-VKSNB-P2 ngày 27 tháng 10 năm 2022 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình đã truy tố Hoàng Minh P1 về tội “Giết người” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo Hoàng Minh P1 thừa nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình đã truy tố.

Người đại diện theo ủy quyền của người đại diện hợp pháp của bị hại anh Trần Phước H3 đề nghị xử đúng người, đúng tội và đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo Hoàng Minh P1 phải có trách nhiệm bồi thường cho gia đình bị hại các khoản tiền sau: chi phí cấp cứu và mai táng phí là 76.226.000 đồng cũng như bồi thường các khoản tổn thất, chi phí khác theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình tại phiên tòa sau khi phân tích đánh giá tính chất vụ án, xem xét hậu quả do hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đã đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Hoàng Minh P1 phạm tội “Giết người”.

Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Hoàng Minh P1 từ 18 đến 20 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 08/6/2022.

Về phần trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585, 591, 593 Bộ luật Dân sự buộc bị cáo Hoàng Minh P1 phải có trách nhiệm bồi thường cho gia đình bị hại các khoản tiền cụ thể như sau:

- Tiền cấp cứu và mai táng phí là: 76.226.000 đồng

- Tiền bù đắp tổn thất về tinh thần từ 90 đến 100 tháng lương cơ sở.

- Tiền cấp dưỡng nuôi cháu Trần Phước T1 mỗi tháng 750.000 đồng tính từ thời điểm anh H2 chết ngày 08/6/2022 đến khi cháu T1 đủ 18 tuổi.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Trả lại cho bị cáo Hoàng Minh P1: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu USMAXT bên trong có 01 sim điện thoại và 01 thẻ căn cước, 01 hộ chiếu mang tên Hoàng Minh P1. Trả lại cho gia đình anh H2: 02 điện thoại gồm 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO 1916 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA.

Tịch thu tiêu hủy: 01 con dao kim loại dài 32 cm, cán bằng gỗ; 01 kéo kim loại dài 24cm; 01 túi sợi tổng hợp màu đen (bao) dài 32 cm; 01 bao da màu đen, dài 46 cm; 01 đôi dép nhựa màu nâu; 01 hộp nhựa màu trắng bên trong có 03 ống hình trụ và 01 nắp chai nhựa; 01 áo phông cộc tay cổ tròn màu trắng, thân áo bám dính máu do các vật chứng trên là công cụ, phương tiện bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nhưng không có giá trị sử dụng.

Bị cáo Hoàng Minh P1 phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa Luật sư bào chữa cho bị cáo vắng mặt có lý do và gửi bài bào chữa cho bị cáo, nội dung thể hiện: Hành vi phạm tội của bị cáo Hoàng Minh P1 bị Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình truy tố về tội “Giết người” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Tuy nhiên nguyên nhân để sảy ra vụ án nêu trên thì bị hại là anh H2 cũng có một phần lỗi vì đã túm cổ áo phía sau kéo làm bị cáo ngã ngồi xuống đất. Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo mức án phù hợp để bị cáo yên tâm cải tạo sớm trở về với gia đình và xã hội.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội của mình, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của chính bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của người chứng kiến; phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, kết quả thực nghiệm điều tra, bản kết luận giám định kết luận giám định pháp y số 434/KL-KTHS-PY ngày 14/6/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình kết luận: “Nồng độ cồn trong máu của Trần Phước H2: 53mg/100ml. Nguyên nhân chết của anh Trần Phước H2: Mất máu cấp do vết thương xuyên thấu từ ngoài bả vai vào trong khoang ngực làm rách thủng nhu mô phổi, đứt bán phần động mạch chủ ngực. Cơ chế hình thành tổn thương trên nạn nhân Trần Phước H2 do vật sắc nhọn có một lưỡi gây nên” cũng như Kết luận giám định số 672/KL-KTHS-KTS&ĐT ngày 19/9/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình kết luận: “Không phát hiện dấu vết cắt ghép chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong 05 tệp tin lưu trữ trong USB gửi giám định. Trích xuất được 20 ảnh mô tả diễn biến nội dung trong 05 tệp tin video lưu trữ trong USB gửi giám định. Sao lưu 05 tệp tin video lưu trữ trong USB gửi giám định sang 02 đĩa DVD-R” và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, đã có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 23 giờ ngày 07/6/2022 tại bãi đỗ xe ô tô nhà hàng “T” nằm giáp đường 477 của gia đình anh Bùi Văn T2 tại thôn N, xã N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình do bực tức về việc anh Trần Phước H2 là lái xe ô tô nhãn hiệu HINO, biển kiểm soát 29LD-316.... dùng tay túm cổ áo phía sau kéo làm Hoàng Minh P1 bị ngã ngồi xuống đất, P1 vùng đứng dậy đi đến cửa phụ xe ô tô lấy 01 chiếc kéo nhọn đầu bằng kim loại dài 24 cm ở dưới tấm lót sàn xe, quay người đâm về phía anh H2 nhưng không trúng làm kéo văng rơi xuống đất, thấy anh H2 bỏ chạy lên phía trước xe ô tô biển kiểm soát 29LD-316.... thì P1 tiếp tục lấy 01 con dao nhọn lưỡi bằng kim loại dài 18 cm để ở dưới tấm lót sàn xe chạy đuổi theo anh H2, khi đến cách anh H2 khoảng 50 cm ở phía trước đầu xe ô tô HINO, biển kiểm soát 29LD-316...., P1 cầm dao tay phải đâm 01 nhát trúng vào phần lưng dưới bả vai trái của anh H2 gây ra vết thương xuyên thấu từ ngoài bả vai trái vào khoang ngực làm rách thủng nhu mô phổi, đứt bán phần động mạch chủ ngực làm anh H2 tử vong. Hành vi của Hoàng Minh P1 phạm tội “Giết người” thuộc trường hợp “có tính chất côn đồ” quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.

Điều 123. Tội giết người.

1. Người nào giết người thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a)……………………..

…………………………

………………………….

n) Có tính chất côn đồ,

…………………………

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình đã truy tố bị cáo với tội danh và điều luật đã viện dẫn như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật được chấp nhận.

Hành vi phạm tội của bị cáo Hoàng Minh P1 là đặc biệt nghiêm trọng, đã xâm phạm đến quyền sống là một trong những quyền cơ bản nhất của con người được pháp luật bảo vệ. Xuất phát từ nguyên nhân nhỏ nhặt anh H2 bảo bị cáo chuyển tiền để trả tiền hát Karaoke nhưng bị cáo không đồng ý, sau đó bỏ đi ra ngoài. Sau khi gặp nhau tại chỗ đỗ xe ô tô HINO, biển kiểm soát 29LD-316... anh H2 đã có hành vi túm cổ áo phía sau kéo bị cáo làm P1 ngã ngồi xuống đất nhưng không gây thương tích thì bị cáo đã lấy 01 chiếc kéo bằng kim loại nhọn đầu đâm về phía anh H2 nhưng không trúng, kéo văng xuống đất, anh H2 bỏ chạy sau đó bị cáo lại lấy 01 con dao đuổi theo anh H2 đâm 01 nhát trúng vào phần lưng dưới bả vai trái của anh H2 làm anh H2 ngã xuống đất và đã được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Ninh Bình, đến ngày 08/6/2022 thì tử vong. Hành vi của bị cáo là cố ý dùng dao nhọn là hung khí nguy hiểm đâm 01 nhát vào lưng anh Trần Phước H2 hậu quả làm anh H2 chết thể hiện tính chất côn đồ, hung hãn. Sự việc xảy ra tại nơi đậu xe ô tô tại khu đất trống giáp đường 477 vào thời điểm ban đêm đã gây tác động xấu đến trật tự trị an, an toàn xã hội tại địa phương và gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân. Bị cáo Hoàng Minh P1 có nhân thân rất xấu đã có 01 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” đã được xóa án tích; 01 lần bị đưa vào cơ sở giáo dục 24 tháng về hành vi “Nhiều lần đánh người gây thương tích” và đang có 02 tiền sự về các hành vi “Xâm hại sức khỏe của người khác và Hủy hoại tài sản của người khác” nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện cải tạo bản thân mà lại tiếp tục phạm tội mới thuộc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Căn cứ vào tính chất, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra; nhân thân của bị cáo và yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm thấy cần phải xử phạt bị cáo Hoàng Minh P1 nghiêm minh với mức hình phạt thật nghiêm khắc, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian dài mới tương xứng với tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo đủ điều kiện để cải tạo, giáo dục chính bản thân bị cáo cũng như răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội. Quá trình điều tra và tại phiên tòa đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội bị cáo đã đến Công an thành phố N, tỉnh Ninh Bình đầu thú là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự được xem xét áp dụng cho bị cáo khi lượng hình.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra anh Trần Phước H3 là người đại diện theo ủy quyền của người đại diện hợp pháp của bị hại có đơn yêu cầu bị cáo Hoàng Minh P1 bồi thường chi phí cấp cứu, mai táng phí, xây mộ với số tiền là 76.226.000 đồng và các khoản chi phí khác theo quy định của pháp luật. Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585, 591, 593 Bộ luật Dân sự, Hội đồng xét xử buộc bị cáo Hoàng Minh P1 phải có trách nhiệm bồi thường cho gia đình bị hại các khoản tiền cụ thể như sau:

- Tiền cấp cứu và mai táng phí, làm mộ là: 76.226.000 đồng.

- Tiền bù đắp tổn thất về tinh thần: 80 tháng lương cơ sở x 1.490.000 đồng = 119.200.000 đồng.

- Tiền cấp dưỡng nuôi cháu Trần Phước T1 mỗi tháng 1.500.000 đồng tính từ thời điểm anh Hưng chết ngày 08/6/2022 đến khi cháu T1 đủ 18 tuổi. Tính đến ngày xét xử sơ thẩm (29/12/2022) là 06 tháng 21 ngày = 10.050.000 đồng

- Khi còn sống anh H2 cùng hai em trai có trách nhiệm phụng dưỡng bố mẹ đẻ là ông Trần Minh P2 và bà Nguyễn Thị V đều sinh năm 1958. Do vậy bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường tiền cấp dưỡng cho ông P2 và bà V từ thời điểm anh H2 chết ngày 08/6/2022 đến khi ông P2, bà V chết, mỗi tháng 750.000 đồng/1 người/1 tháng. Tính đến ngày xét xử sơ thẩm (29/12/2022) là là 06 tháng 21 ngày = 10.500.000 đồng.

Tổng số tiền bị cáo Hoàng Minh P1 phải bồi thường cho người đại diện hợp pháp của bị hại là 215.526.000 đồng.

Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự xử lý các vật chứng đã thu giữ như sau:

- Quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã thu giữ 03 chiếc điện thoại di động gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO 1916; 01 điện thoại di động nhãn hiệu USMAXT bên trong có 01 sim điện thoại; 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA; 01 thẻ căn cước công dân và 01 hộ chiếu mang tên Hoàng Minh P1. Xét các các vật chứng trên không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên trả lại cho Hoàng Minh P1: 01 điện thoại di động nhãn hiệu USMAXT bên trong có 01 sim điện thoại, 01 thẻ căn cước công dân và 01 hộ chiếu mang tên Hoàng Minh P1 nhưng tiếp tục quản lý lại chiếc điện thoại di động để đảm bảo thi hành án cho bị cáo. Trả lại cho gia đình anh Trần Phước H2: 02 chiếc điện thoại di động gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO 1916; 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA.

- Đối với các vật chứng còn lại gồm: 01 con dao kim loại dài 32 cm, cán bằng gỗ; 01 kéo kim loại dài 24cm; 01 túi sợi tổng hợp màu đen (bao) dài 32 cm; 01 bao da màu đen, dài 46 cm; 01 đôi dép nhựa màu nâu; 01 phong bì niêm phong theo đúng quy định bên trong có 01 hộp nhựa màu trắng bên trong có 03 ống hình trụ và 01 nắp chai nhựa; 01 áo phông cộc tay cổ tròn màu trắng, thân áo bám dính máu. Do các vật chứng trên là công cụ, phương tiện bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nhưng không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

Về quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa người bào chữa cho bị cáo, bị cáo, người đại diện hợp pháp cho bị hại và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi của người tiến hành tố tụng và Quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng, Cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Về án phí: Bị cáo bị tuyên là có tội nên phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm, án phí cấp dưỡng theo định kỳ theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 47; Điều 48 Bộ luật Hình sự;

Căn cứ các Điều 357; 468; 584; 585; 591; 593 của Bộ luật Dân sự;

Căn cứ Điều 106; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Minh P1 phạm tội “Giết người”.

Xử phạt: Bị cáo Hoàng Minh P1 20 (hai mươi) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 08/6/2022.

2. Trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Hoàng Minh P1 phải có trách nhiệm bồi thường cho gia đình bị hại các khoản sau:

- Tiền cấp cứu và mai táng phí, xây mộ là: 76.226.000 đồng

- Tiền bù đắp tổn thất về tinh thần: 80 tháng lương cơ sở x 1.490.000 đồng = 119.200.000 đồng

- Tiền cấp dưỡng nuôi cháu Trần Phước T1 mỗi tháng 1.500.000 đồng tính từ thời điểm anh H2 chết ngày 08/6/2022 đến khi cháu T1 đủ 18 tuổi. Tính đến ngày xét xử sơ thẩm (29/12/2022) là là 06 tháng 21 ngày = 10.050.000 đồng.

- Tiền cấp dưỡng cho ông Trần Minh P2 (Trần Phước P2) và bà Nguyễn Thị V mỗi tháng 750.000 đồng/1người/1tháng, tính từ thời điểm anh H2 chết ngày 08/6/2022 đến khi ông P2, bà V chết. Tính đến ngày xét xử sơ thẩm (29/12/2022) là là 06 tháng 21 ngày = 10.050.000 đồng.

Tổng số tiền bị cáo Hoàng Minh P1 phải bồi thường cho người đại diện hợp pháp của bị hại là 215.526.000 đồng (hai trăm mười lăm triệu, năm trăm hai mươi sáu nghìn đồng).

Thời điểm bị cáo phải cấp dưỡng cho cháu T1, ông P2, bà V tiếp theo tính từ tháng 01/2023, thời gian vào ngày 15 hàng tháng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

3. Về xử lý vật chứng:

- Trả lại cho bị cáo Hoàng Minh P1: 01 điện thoại di động nhãn hiệu USMAXT bên trong có 01 sim điện thoại, 01 thẻ căn cước công dân và 01 hộ chiếu mang tên Hoàng Minh P1 nhưng tiếp tục quản lý lại chiếc điện thoại di động để đảm bảo thi hành án cho bị cáo.

- Trả lại cho gia đình anh Trần Phước H2: 02 chiếc điện thoại di động gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO 1916; 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) con dao kim loại dài 32 cm, cán bằng gỗ; 01 (một) kéo kim loại dài 24 cm; 01 (một) túi sợi tổng hợp màu đen (bao) dài 32 cm; 01 (một) bao da màu đen, dài 46 cm; 01 (một) đôi dép nhựa màu nâu; 01 phong bì niêm phong theo đúng quy định bên trong có 01 (một) hộp nhựa màu trắng bên trong có 03 ống hình trụ và 01 nắp chai nhựa; 01 (một) áo phông cộc tay cổ tròn màu trắng, thân áo bám dính máu.

(Chi tiết như biên bản giao, nhận vật chứng ngày 03/11/2022 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Ninh Bình và Cục thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình).

4. Án phí: Bị cáo Hoàng Minh P1 phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 10.776.300 đồng (mười triệu bẩy trăm bẩy mươi sáu nghìn ba trăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm và 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng theo định kỳ.

Án xử sơ thẩm công khai bị cáo, bà V, chị S có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người đại diện hợp pháp của bị hại ông P2; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ