vanban.org

Bản án 39/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện U Minh, tỉnh Cà Mau Tuyên án 14/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm b, h, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Chí T phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt: Bị cáo Phạm Chí T 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/7/2022 . Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Chí T - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm b, h, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN U MINH
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 39/2022/HS - ST
Ngày 14 - 12 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dư Thanh Nguyễn

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh Hữu Hiệp

Ông Nguyễn Hải Hưng

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Lụa - là Thư ký Tòa án nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Dương Thành Được - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 35/2022/TLST-HS ngày 28 tháng 10 năm 2022, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2022/QĐXXST-HS, ngày 24 tháng 11 năm 2022, đối với bị cáo:

- Họ và tên: Phạm Chí T, sinh ngày 10/5/2000; nơi sinh: Huyệ n Phước Long, tỉnh Bạc Liêu; nơi cư trú: Ấp 4, xã Phong Thạnh Tây B, huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Phạm Văn T1 và bà Nguyễn Thị T2; Bị cáo có vợ và 01 con; tiền án 01 lần: Ngày 23/11/2018 bị Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh xử phạt 06 tháng tù về tội trộm cắp tài sản, chấp hành xong hình phạt ngày 22/02/2019, chưa chấp hành xong phần án phí của bản án. Tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/7/2022 đến nay (bị cáo có mặt).

- Người bị hại: Bà Phan Thị L, sinh năm 1966 và ông Bùi Văn K, sinh năm 1964; nơi cư trú: ấp 1, xã K, huyện U , tỉnh C (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa. Nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ ngày 03/7/2022 lợi dụng sự sơ hở, mất cảnh giác trong quản lý tài sản Phạm Chí T đã lén lút vào nhà của ông Bùi Văn K và bà Phan Thị L trú tại ấp 1, xã Khánh Lâm, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau lấy trộm 03 mô tơ màu xanh, hiệu Bảo Long 3 HP và 01 hộp giảm tốc. Theo kết luận định giá tài sản số 13/KL-HĐĐGTS ngày 05/7/2022 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự có trị giá 5.550.000 đồng.

Cáo trạng số 32/CT-VKS ngày 26 tháng 10 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện U Minh truy tố bị cáo Phạm Chí T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự.

Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Viện kiểm sát truy tố, không oan sai cho bị cáo và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Người bị hại yêu cầu xét xử bị cáo theo quy định của pháp luật. Về trách nhiệm dân sự đã nhận lại tài sản bị lấy trộm, không yêu cầu bị cáo bồi thường tiếp.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm b, h, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Phạm Chí T từ 09 tháng đến 12 tháng tù về tội trộm cắp tài sản. Về trách nhiệm dân sự, không xem xét. Tang vật của vụ án trả lại cho bị cáo quản lý chiếc điện thoại OPPO; tịch thu tiêu hủy cái bao tự chế màu trắng – xanh dương là công cụ phạm tội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện U Minh, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện U Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, người bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo Phạm Chí T khai nhận: Khoảng 09 giờ ngày 03/7/2022 T cùng Nguyễn Như Băng (Không rõ lai lịch) đi xe ba gác từ ấp Minh Hà A, xã Khánh Bình Đông, huyện Trần Văn Thời đến xã Khánh Lâm, huyện U Minh để nhặt ve chai. Đến khoảng 12 giờ cùng ngày cả 2 người đến khu vực thuộc ấp 1 xã Khánh Lâm, huyện U Minh, do trời mưa nên các nhà dân đóng cửa, T phát hiện có chòi vuông cách xa nhà dân nên T có ý định vào chòi tìm tài sản có giá trị để lấy, T kêu Băng ngồi ngoài xe đợi, còn T đi vào chòi vuông, phát hiện rồi lấy 3 mô tơ và 1 cục giảm tốc thì bị bà L phát hiện truy hô và bị bắt giữ.

Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố bị cáo là đúng, không oan sai và thừa nhận trong quá trình điều tra, truy tố không bị ép buộc hay bị một tác động nào khác. Căn cứ kết quả khai báo tại phiên tòa phù hợp với các chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, phù hợp với lời khai của người bị hại, phù hợp với vật chứng của vụ án. Tổng giá trị tài sản bị cáo lấy trộm là 5.550.000 đồng. Tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự quy định “1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng …, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm...”. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết tội bị cáo Phạm Chí T phạm tội trộm cắp tài sản nên cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện U Minh truy tố bị cáo là có căn cứ đúng pháp luật.

Bị cáo thực hiện hành vi lén lút lấy trộm 3 cái mô tơ và 1 cục giảm tốc của bà Lẹ và ông Khánh, mục đích là để bán tiêu sài cho cá nhân. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu hợp pháp của người khác một cách trái pháp luật, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Do đó, hành vi của bị cáo cần có một mức án tương xứng với mức độ nguy hiểm của hành vi mà bị cáo đã thực hiện.

Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu xử phạt tù về tội trộm cắp tài sản chưa được xóa án tích mà tiếp tục phạm tội nên bị cáo thuộc trường hợp tái phạm được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Người phạm tội tự nguyện khắc phục hậu quả; phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo điểm b, h, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Về nhân thân, bị cáo có nhân thân không tốt, vào ngày 23/11/2018, bị Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu xét xử, phạt bị cáo 06 tháng tù về tội trộm cắp tài sản, chưa được xóa án tích. Bị cáo không lấy đó làm bài học để sửa chữa mà lại phạm tội trộm cắp tài sản, chứng tỏ bị cáo không chấp hành pháp luật.

Viện kiểm sát giữ nguyên bản cáo trạng và đề nghị xử phạt bị cáo Phạm Chí T từ 09 tháng đến 12 tháng tù là có căn cứ và thỏa đáng.

Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ, Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo học tập, lao động trở thành người công dân tốt chấp hành đúng các quy định của pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại bà Phan Thị L, ông Bùi Văn K đã nhận lại tài sản bị lấy trộm, không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm nên không xem xét.

Về vật chứng của vụ án:

- Đối với 03 mô tơ màu xanh hiệu Bảo Long 3 HP và 01 hộp giảm tốc, quá trình điều tra đã trả lại cho bà Phan Thị L, phù hợp với quy định của pháp luật nên không xem xét.

- Đối với chiếc điện thoại di động cảm ứng hiệu OPPO màu vàng, đồng, trắng, màng hình bị nứt của đối tượng tên Như Băng, sợ bị ướt điện thoại nên đưa cho T giữ, quá trình điều tra xác định điện thoại này không sử dụng vào việc phạm tội, hiện tại không truy tìm được Như Băng nên trả lại lại cho bị cáo T quản lý.

- Đối với chiếc bao tự chế màu trắng – xanh là của Phạm Chí T là công cụ, phương tiện phạm tội cần tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo Phạm Chí T phải chịu 200.000 đồng. Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Đối với người phụ nữ tên gọi Nguyễn Như Băng Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện U Minh đã ra quyết định truy tìm nhưng đến nay chưa có kết quả. Vì vậy, tách ra cho cơ quan điều tra tiếp tục truy tìm xử lý sau.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm b, h, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Chí T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Phạm Chí T 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/7/2022 .

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Trả lại chiếc điện thoại di động cảm ứng hiệu OPPO màu vàng, đồng, trắng, màng hình bị nứt cho bị cáo Phạm Chí T quản lý.

Tịch thu tiêu hủy chiếc bao tự chế màu trắng – xanh.

Các tang vật trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện U Minh đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 28/10/2022 giữa cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện U Minh và Chi cục thi hành án dân sự huyện U Minh.

- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo Phạm Chí T phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

- Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ