- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Minh Nhường cùng đồng phạm - Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 20…"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo HMN 02 (hai) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 20-02-2022.
- Căn cứ chính? Điều 52 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 39/2022/HS-ST Ngày: 22-7-2022 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tâm
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Quang Phước
2. Ông Trần Văn Hùng
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Thế Sự – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Lê Huỳnh Như Nguyện - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 23/2022/TLST-HS ngày 26 tháng 4 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2022/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 6 năm 2022 đối với các bị cáo:
1. NMN, sinh năm 19.., tại tỉnh TN; nơi đăng ký thường trú: ấp TT, xã TT, huyện TT, tỉnh TT; nơi cư trú hiện nay: ấp 1, xã SN, huyện TC, tỉnh TN; nghề nghiệp: không có; trình độ văn hóa (học vấn): 4/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không có; quốc tịch: Việt Nam; con ông: NTT và bà VTH; vợ, con: không có; tiền án: Tại Bản án số 70/2017/HS-ST ngày 10-5-2017, bị Tòa án nhân dân Thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh xử phạt 18 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, chưa chấp hành phần án phí, tiền sự: Tại Quyết định số 34/QĐ-TA ngày 23-11-2018, bị Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 15 tháng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”; bị tạm giữ ngày 20-02-2022, đến ngày 23-02-2022 bị tạm giam đến nay, “có mặt”.
2. HDP, sinh năm 19.., tại tỉnh TN; nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú hiện nay: ấp HA, xã TH, huyện TC, tỉnh TN; nghề nghiệp: không có; trình độ văn hóa (học vấn): 3/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không có; quốc tịch: Việt Nam; con ông: HMĐ (chết) và bà PTN; vợ: TTN và có 01 người con; tiền án, tiền sự: không có; nhân thân: Tại Bản án số 04/2017/HSST ngày 24-01-2017, bị Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”; bị tạm giữ ngày 10-02-2022, đến ngày 19-02-2022 bị tạm giam đến nay, “có mặt”.
3. HVS, sinh năm 20.., tại Campuchia; nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú hiện nay: ấp TD, xã TT, huyện TC, tỉnh TN; nghề nghiệp: không có; trình độ văn hóa (học vấn): 5/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không có; quốc tịch: Việt Nam; con ông: HVS và bà NTN; vợ, con; không có; tiền án, tiền sự: không có; bị tạm giữ ngày 10-02-2022, đến ngày 19-02-2022 bị tạm giam đến nay, “có mặt”.
Bị hại:
1. Chị LTCT, sinh năm 20..; địa chỉ: ấp 4, xã Suối Dây, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh; “vắng mặt”.
2. Chị TTKA, sinh năm 19..; địa chỉ: ấp Đông Phước, xã Thạnh Đông, huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang, “vắng mặt”.
3. Anh HTN, sinh năm 19..; địa chỉ: ấp 3, xã Phú Cường, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang; “có đơn xin vắng mặt”.
4. Anh NQQ, sinh năm 19..; địa chỉ: ấp Lộc Trung, xã Hưng Thuận, thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh; “vắng mặt”.
5. Anh NTT, sinh năm 20..; địa chỉ: ấp An Hòa, xã An Phú, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh; “có đơn xin vắng mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Để có tiền tiêu xài, HVS, HDP và NMN rủ nhau đi tìm tài sản của người khác để lấy trộm. Vào khoảng 02 giờ ngày 24-9-2021 S, D, N đi bộ ngang qua nhà chị A thuộc khu phố An Khương, phường An Tịnh, thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh thì phát hiện 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7+ màu đen của chị A đang sạc pin dưới chân võng, khu vực cửa ra vào nhà. S và D đứng bên ngoài cảnh giới, N đi vào trong lấy trộm điện thoại của chị A và cùng nhau tiếp tục đi trộm cắp tài sản trên đường số 08, Khu công nghiệp Trảng Bàng thuộc khu phố An Bình, phường An Tịnh, thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.
Đến khoảng 04 giờ cùng ngày S, D, N đi bộ đến chốt gác cổng Công ty sợi Thế Kỷ, thấy anh N đang nằm ngủ, để 02 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5S màu trắng và nhãn hiệu Nokia 1.200 màu đen sạc pin trên bàn. S và D đứng bên ngoài cảnh giới, N đi vào trong lấy trộm 02 điện thoại di động của anh N.
Sau đó S, D, N cùng nhau đi bộ đến Công ty may mặc LangHam, trèo tường rào đột nhập vào phía trong nhà xe Công ty thì nhìn thấy công nhân đang nằm ngủ nên S và Dđứng cảnh giới. N đi lại gần lấy trộm 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo F11 màu hồng của anh Q và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A54 màu đen của anh T thì bị những người công nhân phát hiện truy đuổi, cả ba tẩu thoát và đi về phòng trọ ngủ.
Đến 11 giờ cùng ngày, S và D đem 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo đến cửa hàng Phước Lộc thuộc khu phố An Bình, phường An Tịnh, thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh bán được số tiền 800.000 đồng và sữa chữa 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7+, D chia cho S số tiền 300.000 đồng, N số tiền 200.000 đồng, riêng 02 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5S và nhãn hiệu Oppo F11 thì N cất giữ, còn điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1.200 D cất giữ, nhưng D và N đã làm mất.
Ngoài ra, N còn thực hiện 01 vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh, cụ thể:
Vào khoảng 09 giờ ngày 22-5-2021, N phát hiện xe môtô nhãn hiệu Honda, loại Wave Alpha, biển số 70K1-364.41 của chị T, trên xe có cắm sẵn chìa khóa, không có người trông giữ để tại phòng C8 nhà trọ Anh Thư thuộc Khu phố 3, thị trấn Tân Biên, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh, nên N nảy sinh ý định trộm bán lấy tiền tiêu xài. Sau khi lấy trộm xe môtô, N mang đến khu vực thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh nhờ người tên T không rõ địa chỉ mang xe đi cầm cố, sau đó Tâm bỏ đi đâu không rõ.
Tại các Kết luận định giá tài sản số 05/KL-HĐĐGTS ngày 09-02-2022, số 06/KL-HĐĐGTS ngày 16-02-2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh, kết luận:
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7+ màu đen trị giá 3.500.000 đồng.
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5S màu trắng trị giá 1.100.000 đồng.
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1200 màu đen trị giá 200.000 đồng.
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo F11 màu hồng trị giá 3.350.000 đồng.
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A54 màu đen trị giá 3.150.000 đồng.
Tại Kết luận định giá tài sản số 14/KL-HĐĐGTS ngày 28-6-2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh, kết luận: 01 xe môtô nhãn hiệu Honda, loại Wave Alpha, biển số 70K1-364.41 trị giá 11.690.000 đồng.
Vật chứng thu giữ: 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J7+, màu đen, không có màn hình. Bên trong sườn máy có ký hiệu: Samsung SDIEM. PGF494088HMAGBE806TCHH091F1134700, tình trạng máy không còn hoạt động, bị hư hỏng
Qua xác minh thể hiện S, D, N không có tài sản, nên Cơ quan điều tra không tiến hành kê biên.
Trách nhiệm dân sự: Các bị hại yêu cầu các bị cáo N, D, S phải bồi thường thiệt hại về tài sản cụ thể: Chị A yêu cầu bồi thường số tiền 3.500.000 đồng, anh N yêu cầu bồi thường số tiền 1.100.000 đồng, anh Q yêu cầu bồi thường số tiền 3.350.000 đồng, anh T yêu cầu bồi thường số tiền 3.150.000 đồng theo kết quả định giá tài sản. Riêng chị T không yêu cầu bị cáo N phải bồi thường thiệt hại về tài sản là 01 xe môtô nhãn hiệu Honda, loại Wave Alpha, biển số 70K1-364.41 theo kết quả định giá tài sản là 11.690.000 đồng. Hiện các bị cáo N, D và Schưa bồi thường cho các bị hại chị A, anh N, anh Q và anh T.
Tại Bản cáo trạng số 23/CT-VKSTrB ngày 26-4-2022 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh đã truy tố các bị cáo N, D, S về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh vẫn giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo NMN, HPD và HVS phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Riêng bị cáo NMN còn phải chịu tình tiết tăng nặng là tái phạm theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt bị cáo NMN từ 24 (hai mươi bốn) tháng đến 30 (ba mươi) tháng tù.
- Xử phạt bị cáo HPD từ 18 (mười tám) tháng đến 24 (hai mươi bốn) tháng tù.
- Xử phạt bị cáo HVS từ 15 (mười lăm) tháng đến 18 (mười tám) tháng tù.
Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo không có tài sản, nên không phạt tiền bổ sung đối với các bị cáo.
Biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 589 Bộ luật Dân sự.
Đề nghị xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật.
Lời nói sau cùng của các bị cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử phạt bị cáo mức án thấp nhất để sớm trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa các bị hại anh N, anh T, anh Q, chị A và chị T vắng mặt. Xét thấy, trong quá trình điều tra các bị hại có lời khai rõ ràng về các tình tiết của vụ án, sự vắng mặt của các bị hại không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án, nên vụ án vẫn được tiến hành xét xử theo quy định tại Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về hành vi của bị cáo thể hiện: Vào ngày 24-9-2021, tại khu phố An Bình, phường An Tịnh, thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh, N, D và S đã cùng nhau trộm cắp 05 điện thoại di động các loại của các bị hại chị A, anh Hồ Thanh Nhã, anh Q, anh T với tổng tài sản có giá trị là 11.300.000 đồng. Ngoài ra, vào ngày 22-5-2021 tại khu phố 3, thị trấn Tân Biên, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh N còn trộm cắp xe môtô biển số 70K1-364.41 của bị hại chị T có giá trị 11.690.000 đồng.
Xét lời nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người làm chứng, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án và đúng như Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố. Do đó, có đủ cơ sở xác định: Hành vi của các bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Vụ án mang tính chất ít nghiêm trọng, hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vì muốn có tiền tiêu xài để thỏa mãn nhu cầu cá nhân, các bị cáo lén lút lấy trộm 05 điện thoại di động các loại của các bị hại với tổng tài sản trị giá 11.300.000 đồng. Ngoài ra, bị cáo N còn lén lút lấy trộm xe môtô biển số 70K1-364.41 của bị hại chị T trị giá 11.690.000 đồng. Hành vi của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Do đó, cần phải xử phạt nghiêm đối với các bị cáo, cách ly các bị cáo một thời gian để cải tạo, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hôi. Trong vụ án này hành vi phạm tội của các bị cáo N, D và S rủ nhau cùng thực hiện tội phạm là đồng phạm giản đơn, các bị cáo không có phân công vai trò cụ thể, không có sự cấu kết chặt chẽ với nhau trước khi thực hiện hành vi phạm tội.
Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét về vai trò, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo. Cụ thể:
- Xét vai trò, nhân thân của các bị cáo:
Đối với bị cáo N là người khởi xướng rũ bị cáo D và bị cáo S cùng nhau trộm cắp tài sản để bán lấy tiền tiêu xài, cả ba bị cáo N, D và S cùng nhau thực hiện 03 vụ trộm cắp tài sản. Khi thực hiện tội phạm trộm cắp tài sản của chị A, anh Q, anh T bị cáo N là người trực tiếp lấy trộm, còn bị cáo D và bị cáo S là người cảnh giới canh đường; lần lấy trộm tài sản của anh N bị cáo D là người trực tiếp lấy trộm, còn bị cáo Nvà bị cáo S là người cảnh giới canh đường. Ngoài ra, bị cáo N còn thực hiện tội phạm là trộm cắp tài sản của chị T tại Khu phố 3, thị trấn Tân Biên, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh. Các bị cáo N, D và S đã thực hiện hành vi phạm tội nhiều lần. Bị cáo N có 01 tiền sự về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, bị Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 15 tháng vào ngày 12-5-2017 và có 01 tiền án về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, bị Tòa án nhân dân Thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh xử phạt 18 tháng tù vào ngày 10-5-2017 chưa được xóa án tích nay tiếp tục phạm tội do cố ý là tái phạm, nên bị cáo N phải chịu mức án cao nhất trong vụ án.
Đối với bị cáo D và bị cáo S là đồng phạm cùng với bị cáo N thực hiện tội phạm. Bị cáo D có nhân thân xấu, ngày 24-01-2017, bị Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đã chấp hành xong nên bị cáo D phải chịu mức án tiếp theo sau bị cáo N. Bị cáo Skhông có tiền án, tiền sự nên phải chịu mức án thấp nhất trong vụ án này.
Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo N, D và S phạm tội nhiều lần là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Riêng bị cáo N có 01 tiền án chưa được xóa án tích là tái phạm là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của các bị cáo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Qua điều tra, xác minh các bị cáo không có tài sản nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về biện pháp tư pháp:
- 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J7+, màu đen, không có màn hình. Bên trong sườn máy có ký hiệu: Samsung SDIEM. PGF494088HMAGBE806TCHH091F1134700, tình trạng máy không còn hoạt động, bị hư hỏng do phạm tội mà có, nên tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
Vật chứng trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh đang quản lý.
- Đối với các tài sản mà các bị cáo chiếm đoạt đã mang đi bán tiêu xài cá nhân chưa thu hồi được và bị hư hỏng, các bị hại yêu cầu bồi thường, cụ thể:
Chị A yêu cầu bồi thường số tiền 3.500.000 đồng; anh N yêu cầu bồi thường số tiền 1.100.000 đồng; anh Q yêu cầu bồi thường số tiền 3.350.000 đồng; anh T yêu cầu bồi thường số tiền 3.150.000 đồng. Tại phiên tòa các bị cáo đồng ý bồi thường thiệt hại về tài sản cho các bị hại, trong đó mỗi bị cáo đồng ý bồi thường số tiền 3.700.000 đồng nên ghi nhận.
Ghi nhận chị T không yêu cầu bị cáo N phải bồi thường thiệt hại về tài sản với số tiền 11.690.000 đồng.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng tại phiên tòa về mức hình phạt đối với các bị cáo là có căn cứ.
Về án phí: Bị cáo N, D và S phải chịu án phí hình sự và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt bị cáo HMN 02 (hai) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 20-02-2022.
2. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt bị cáo HPD 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 10-02-2022.
- Xử phạt bị cáo HVS 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 10-02-2022.
3. Về biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 589 Bộ luật dân sự.
- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J7+, màu đen, không có màn hình. Bên trong sườn máy có ký hiệu: Samsung SDIEM. PGF494088HMAGBE806TCHH091F1134700, tình trạng máy không còn hoạt động, bị hư hỏng.
Vật chứng trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh đang quản lý.
- Ghi nhận các bị cáo N, D và S đồng ý bồi thường thiệt hại về tài sản cho các bị hại:
Chị A số tiền 3.500.000 đồng (ba triệu năm trăm ngàn đồng).
Anh N số tiền 1.100.000 đồng (một triệu một trăm ngàn đồng).
Anh Q số tiền 3.350.000 đồng (ba triệu ba trăm năm mươi ngàn đồng)
Anh T số tiền 3.150.000 đồng (ba triệu một trăm năm mươi ngàn đồng).
Tổng cộng với số tiền 11.100.000 đồng (mười một triệu một trăm ngàn đồng), trong đó mỗi bị cáo đồng ý bồi thường số tiền 3.700.000 đồng (ba triệu bảy trăm ngàn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
Ghi nhận chị T không yêu cầu bị cáo N phải bồi thường số tiền 11.690.000 đồng (mười một triệu sáu trăm chín mươi ngàn đồng).
4. Án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo NMN, HPD và HVS mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm và mỗi bị cáo phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh. Riêng bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã (phường) và nơi cư trú.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Vụ GĐKT.TANDTC (Vụ 1); - TAND Cấp cao tại TP.HCM; - VKSND Cấp cao tại TP.HCM; - Phòng kiểm tra nghiệp vụ TAND tỉnh; - VKSND Tx. Trảng Bàng; - VKSND tỉnh; - Cơ quan THAHS Tx. Trảng Bàng; - Nhà tạm giữ Công an Tx. Trảng Bàng; - Chi cục THADS Tx. Trảng Bàng; - Phòng lý lịch Sở tư pháp tỉnh; - Bị cáo; - Người tham tố tụng khác; - Lưu hồ sơ; - Lưu tập án; | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA NGUYỄN VĂN TÂM |