- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn N - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH TỈNH CÀ MAU ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 39/2022/HS-ST Ngày: 16/12/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Phạm Lan Chi
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Phi Hùng
2. Ông Nguyễn Văn Chính
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Chúc Ni, là Thư ký Tòa án của Toà án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Vỉ - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 12 năm 2022 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thới Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 37/2022/TLST-HS ngày 03 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2022/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 11 năm 2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn N (Tên gọi khác: M), Sinh năm 2002. Giới tính: Nam. Nơi sinh: tỉnh Cà Mau. Nơi ĐKHTTT: xã T, huyện B, tỉnh Cà Mau. Nơi cư trú: T, huyện B, tỉnh Cà Mau. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Làm thuê. Trình độ học vấn: lớp 6/12. Con ông Ơ Nguyễn Văn V, con bà: Lê Thị A. Anh chị em ruột: 01 người, sinh năm 1997. Vợ, con: Không có. Tiền án: Không, tiền sự: Tại Quyết định số 24/QĐ-UBND ngày 23/02/2021 của Ủy ban nhân dân xã T, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với Nguyễn Văn N về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, thời hạn 03 tháng, bị cáo đã chấp hành xong Quyết định vào ngày 23/5/2021. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/7/2022 cho đến nay. Bị cáo bị tạm giam có mặt.
Bị hại: Anh Hồ Nguyễn Gia K, sinh năm: 2004 (có mặt).
Địa chỉ: Xã P, huyện L, tỉnh Bạc Liêu.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/ Bà Nguyễn Kim T, sinh năm 1975 (có mặt).
Địa chỉ: Xã P, huyện L, tỉnh Bạc Liêu.
2/ Ông Nguyễn Văn V, sinh năm: 1975 (có mặt).
Địa chỉ: Xã T, huyện B, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào ngày 27/6/2022, Nguyễn Văn N quen biết với anh Hồ Nguyễn Gia K thông qua bạn bè giới thiệu, kết bạn Zalo. Đến chiều cùng ngày N có rủ K đến nhà anh Trần Minh Phụng, ở ấp Bình Hổ, xã Vĩnh Phú Tây, huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu chơi đến tối thì ra về.
Khoảng 11 giờ ngày 28/6/2022, N tiếp tục nhắn tin rủ K đến nhà anh Phụng chơi. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày, K điều khiển xe mô tô hiệu Suzuki, loại Satria F150 màu xanh – đen, biển số 94E1 – 486.61 đến nhà anh Phụng rồi chở K và Phụng đi uống nước tại quán cà phê Phố Hẻm ở khu vực chợ Phó Sinh thuộc ấp Phước Thành, xã Phước Long, huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, N tiếp tục điều khiển xe chở K và Phụng quay về nhà anh Phụng. Trên đường về, N thấy anh K có chiếc xe giá trị lớn nên nảy sinh ý định chiếm đoạt xe của K để nhằm mục đích bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. N biết anh K thích phụ tùng làm đẹp xe nên nói dối là có quen chỗ bán phụ tùng xe như tay thắng kiểu, phuộc,… với giá rẻ và nói sẽ chở K đi mua, để anh K tin tưởng giao xe cho N. Anh K nghe N giới thiệu quen chỗ bán phụ tùng xe nên đồng ý giao xe cho N chở đi mua. N dự định điều khiển xe chở K về địa bàn gần nhà N ở ấp 5, xã Tân Lộc Đông, huyện Thới Bình để thuận tiện chiếm đoạt xe tẩu thoát, còn anh K lạ đường nếu phát hiện ra sẽ không thể đuổi theo kịp.
Đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, N điều khiển xe của K chở K rời khỏi nhà anh Phụng. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, khi N điều khiển đi đến đoạn lộ bê tông cặp kinh Nhà Thờ thuộc ấp 5, xã Tân Lộc Đông, huyện Thới Bình, lúc này N tiếp tục nảy sinh thêm ý định chiếm đoạt thêm điện thoại di động hiệu Iphone 11, màu xanh ngọc mà anh K đang sử dụng, nên N dừng xe lại tại đoạn lộ vắng, nói dối là không có điện thoại nên mượn điện thoại của anh K để gọi cho người lấy phụ tùng xe. Anh K tin tưởng nên đồng ý đưa điện thoại cho N. N giả vờ bấm gọi nói chuyện, nhưng thực tế không gọi cho ai, N kêu anh K đứng đợi để N đi lấy phụ tùng rồi quay lại rước, anh K tin tưởng nên đứng đợi. Lúc này, N cầm điện thoại của anh K và điều khiển xe mô tô biển số 94E1 – 486.61 chạy đi không quay lại. Anh K đứng đợi N một lúc mới phát hiện ra mình bị N lừa nên đến trình báo chính quyền địa phương. Sau khi lừa lấy được xe và điện thoại của K, N trốn đến địa bàn thành phố Hồ Chí Minh. Trên đường đi qua địa bàn tỉnh Bạc Liêu, N bán điện thoại của K được 4.000.000 đồng rồi tiêu xài hết.
Đến ngày 12/7/2022, do hết tiền tiêu xài nên N điều khiển xe mô tô biển số 94E1 -486.61 về đến địa bàn huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu nhờ người quen là anh Võ Thanh Khởi đi cầm xe hộ mình. Anh Khởi đem xe mô tô biển số 94E1 - 486.61 cầm cho anh Phan Văn Đáng được số tiền là 7.000.000 đồng về đưa hết cho N. Sau đó, N dùng tiền mua điện thoại di động cũ hiệu Samsung Galaxy A8 giá 1.100.000 đồng để sử dụng, số tiền còn lại đã tiêu xài cá nhân hết.
Đến ngày 22/7/2022, N đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thới Bình đầu thú, khai nhận toàn bộ hành vi chiếm đoạt xe và điện thoại di động của anh K.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 13/KL-HĐĐGTS ngày 22/7/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thuộc Ủy ban nhân dân huyện Thới Bình kết luận: 01 xe mô tô hai bánh, nhãn hiệu Suzuki, loại Satria F150, màu xanh đen, số máy CGA1610159, số khung MH8DL11ANMJ110204 có giá trị thời điểm ngày 28/6/2022 là 55.400.000 đồng; 01 điện thoại di động, hiệu Iphone 11, màu xanh ngọc, có giá trị là 10.000.000 đồng.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 15/KL-HĐĐGTS ngày 22/9/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thuộc Ủy ban nhân dân huyện Thới Bình kết luận: 01 sim số Vinaphone (số thuê bao 0944104233) có giá trị là 25.000 đồng. Tổng giá trị tài sản được định giá là 65.425.000 đồng.
Bản cáo trạng số 40/CT-VKS ngày 02/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau truy tố bị cáo Nguyễn Văn N về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174, Điều 48, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự; Điều 106, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 357, 584, 585, 589 Bộ luật dân sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử phạt bị cáo N từ 02 năm đến 03 năm tù, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Vật chứng của vụ án: Trong giai đoạn điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thới Bình có tạm giữ và đã trả lại cho chủ sở hữu là bà Nguyễn Kim T (mẹ K) 01 xe mô tô hiệu Suzuki loại Satria F150, số máy CGA1610159, số khung MH8DL11ANMJ110204, không biển số, bị hư hỏng, đã qua sử dụng; 01 cụm phụ tùng gồm biển số 94E1-486.61 gắn liền bộ phận dè chắn bùn phía sau đã bị nứt bể nhiều chỗ.
Đối với lớp đệm yên xe mà N tự thay cho xe của K, hiện đang được nhập kho theo Lệnh nhập kho vật chứng số 24 ngày 05/8/2022 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thới Bình, đề nghị tịch thu tiêu hủy.
01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A8, màu vàng, có gắn một sim Viettel số 0865.394.922, đã qua sử dụng, được niêm phong trong túi niêm phong có mã số PS3.2033396. Hiện được nhập kho theo Lệnh nhập kho vật chứng số 22 ngày 01/8/2022 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thới Bình, đề nghị tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
01 USB chứa đoạn video ghi nhận hình ảnh N điều khiển xe mô tô của K sau khi chiếm đoạt được đến nhà anh Hứa Văn Cào ở thành phố Hồ Chí Minh, do anh Cào cung cấp, đã được niêm phong vào túi niêm phong mã số NS4.2066793. Hiện được kèm theo hồ sơ vụ án, đề nghị thu giữ lưu kèm hồ sơ vụ án.
Trách nhiệm dân sự: anh Hồ Nguyễn Gia K là bị hại và bà Nguyễn Kim T người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan yêu cầu N bồi thường xe mô tô 94E1-486.61 đã bị hư hỏng nhiều bộ phận, N đã nhờ gia đình thoả thuận bồi thường sữa chữa xe 18.543.000 đồng xong. K yêu cầu N bồi thường điện thoại di động Iphone 11 đã bị mất bằng số tiền định giá tài sản là 10.000.000 đồng, đề nghị buộc N bồi thường.
Đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: anh Võ Thanh Khởi, anh Phan Văn Đáng, anh Nguyễn Văn V (cha của bị cáo) không có yêu cầu gì đối với N.
Có liên quan trong vụ án, anh Võ Thanh Khởi và anh Phan Văn Đáng giúp N cầm xe mô tô biển số 94E1-486.61, nhưng không biết đó là tài sản do N lừa đảo mà có và cũng không có hưởng lợi gì. Đến khi làm việc với Công an anh Khởi và anh Đáng mới biết nên đã tự nguyện khai báo và giao nộp lại xe. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thới Bình không xử lý là phù hợp.
Đối với điện thoại di động Iphone 11 của K mà N đã bán, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thới Bình có dẫn N đi tìm nhưng N không nhớ tên cửa hàng, địa chỉ cụ thể ở đâu nên không thu hồi được.
Tại phiên tòa, bị cáo N thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và xin cho bị cáo được hưởng hình phạt nhẹ nhất, anh K và bà T yêu cầu bị cáo bồi thường giá trị điện thoại mà bị cáo đã chiếm đoạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Thới Bình, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn N khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản sự việc, các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Vào ngày 28/6/2022 Nguyễn Văn N nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của anh Hồ Nguyễn Gia K nên nói dối, đưa ra những thông tin không có thật để K tin tưởng, tự nguyện giao tài sản cho bị cáo rồi chiếm đoạt của K 01 xe mô tô hiệu Suzuki, loại Satria F150, biển số 94E1-486.61 và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 tại ấp 5, xã Tân Lộc Đông, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau. Tổng giá trị tài sản được định giá trị là 65.425.000 đồng. Do đó, Cáo trạng số 40/CT-VKS ngày 02/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau truy tố bị cáo phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 174 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Xét tính chất, hậu quả của hành vi phạm tội: Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật, lỗi khi thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo là lỗi cố ý. Bị cáo đang trong độ tuổi lao động, chỉ vì muốn có tiền để thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng của bản thân nhưng không phải bỏ ra bằng công sức lao động chân chính; bị cáo là người lên kế hoạch và trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội, lợi sự tin tưởng của anh K đối với mình, bị cáo lừa anh K đến địa điểm mà bị cáo đã lựa chọn để dễ dàng tẩu thoát nhằm mục đích chiếm đoạt đến cùng tài sản của người khác. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo một mức án nghiêm minh, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo để cải tạo, giáo dục bị cáo, cũng như phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng nhưng có 1 tiền sự về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tác động gia đình sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục một phần hậu quả và đầu thú nên Hội đồng xét xử có cân nhắc đến tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo theo quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự là phù hợp.
Về trách nhiệm dân sự: Gia đình bị cáo đã thoả thuận và bồi thường sữa chữa xe 18.543.000 đồng, anh K và bà T cũng không yêu cầu chi phí nào khác nên không xem xét. Đối với điện thoại di động Iphone 11 đã bị mất anh K yêu cầu bị cáo bồi thường bằng số tiền định giá tài sản là 10.000.000 đồng là có căn cứ, cần buộc bị cáo bồi thường cho bị hại số tiền trên.
Đối với số tiền bị cáo cầm cố và sửa chữa xe, anh Võ Thanh Khởi, anh Phan Văn Đáng, anh Nguyễn Văn V không có yêu cầu gì đối với N nên không xem xét.
Về xử lý vật chứng của vụ án: Theo đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có cơ sở, phù hợp với quy định của pháp luật nên cần chấp nhận.
Đối với anh Võ Thanh Khởi và anh Phan Văn Đáng giúp N cầm xe mô tô biển số 94E1-486.61, nhưng không biết đó là tài sản do N lừa đảo mà có và cũng không có hưởng lợi gì. Đến khi làm việc với Công an anh Khởi và anh Đáng mới biết nên đã tự nguyện khai báo và giao nộp lại xe. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thới Bình không xử lý là phù hợp.
Xét lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có cơ sở nên chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự có giá ngạch theo quy định của pháp luật.
Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng
cáo, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ nêu trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174, Điều 48, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự; Điều 106, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 357, 584, 585, 589 Bộ luật dân sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Về trách nhiệm hình sự:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn N 02 năm 06 tháng (Hai năm sáu tháng) tù. Thời hạn chấp hành hình phạt được tính kể từ ngày được tính kể từ ngày 22/7/2022.
2. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo bồi thường cho bị hại giá trị điện thoại di động hiệu Iphone 11 được định giá là 10.000.000 đồng.
Kể từ ngày anh N có đơn yêu cầu thi hành án, trường hợp bị cáo chậm thi hành án thì còn phải chịu thêm khoản lãi phát sinh theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
3. Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy: 01 lớp đệm yên xe được N tự thay cho xe của K có kích thước 70 cm x 28 cm, đã qua sử dụng.
Tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án: 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A8, màu vàng, có gắn một sim Viettel số 0865.394.922, đã qua sử dụng.
Thu giữ lưu kèm hồ sơ vụ án: 01 USB chứa đoạn video ghi nhận hình ảnh N điều khiển xe mô tô của K sau khi chiếm đoạt được đến nhà anh Hứa Văn Cào ở thành phố Hồ Chí Minh, do anh Cào cung cấp.
(Vật chứng hiện Cơ quan Thi hành án dân sự huyện Thới Bình đang quản lý theo biên bản giao nhận ngày 07/11/2022).
4. Nghĩa vụ chịu án phí và quyền kháng cáo:
Bị cáo Nguyễn Văn N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 500.000 đồng án phí dân sự có giá ngạch.
Án xử công khai, bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.
5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Cà Mau; - VKSND huyện Thới Bình; - Công an huyện Thới Bình; - Chi cục THADS huyện Thới Bình; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ. | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Huỳnh Phạm Lan Chi |