- Tranh chấp gì? án hình sự — "P.Q.T-TRỘM CẮP TÀI SẢN - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo P. Q. T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A TỈNH B | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 39/2022/HS-ST Ngày 14-11-2022. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A, TỈNH B
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông P. L. L.
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông P. T. L.
2. Bà N. T. D.
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà N. H. H. T – Thư ký Tòa án nhân dân huyện A, tỉnh B.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện A, tỉnh B tham gia phiên tòa: Ông L. Đ. A – Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện A, tỉnh B xét xử sơ thẩm công khai trực tiếp vụ án hình sự thụ lý số: 38/2022/TLST-HS, ngày 18 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/2022/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 10 năm 2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: P. Q. T, tên gọi khác: Không; giới tính: Nam; sinh ngày: 26/10/2003 tại Q; nơi cư trú: Thôn V, xã H, thị xã N, tỉnh B; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 7/12; nghề nghiệp: Học nghề gara ô tô; con ông: P. Q. V (chết) và bà: T. T. X (sinh năm 1968); vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo được áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã H, thị xã N, tỉnh B từ ngày 09/8/2022 cho đến nay. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
Người bị hại: Anh T. N. T – Sinh năm: 1989; nơi cư trú: Thôn C, xã D, huyện A, tỉnh B (vắng mặt).
Người làm chứng:
1. Chị N. T. D – Sinh năm: 1970 (vắng mặt).
2. Anh H. T. M – Sinh năm: 1982 (vắng mặt).
3. Anh H. T. V – Sinh năm: 1980 (vắng mặt).
Cùng cư trú tại: Khu phố L, thị trấn T, huyện A, tỉnh B.
4. Anh N. T. Đ – Sinh năm 1973; nơi cư trú: Khu phố P, thị trấn T, huyện A, tỉnh B (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17h ngày 04/7/2022, T. N. T (sinh năm 1989, ở thôn C, xã D, huyện A) điều khiển xe mô tô 78A-700.59 chở con và mẹ vợ đến bãi biển L (thuộc khu phố L, thị trấn T, huyện A) để tắm biển. T để xe tại đường đất gần tường rào phía Bắc lối đi xuống biển rồi cùng gia đình xuống tắm biển. T để trong cốp xe mô tô 01 ví da bên trong có 2.200.000đ (hai triệu hai trăm nghìn đồng) và một số giấy tờ tùy thân.
Khoảng 16h30p ngày 04/7/2022, P. Q. T điều khiển xe mô tô từ phòng trọ ở phường G, thành phố E đến bãi biển L, mục đích tìm những xe mô tô của người dân đi tắm biển, không người trông giữ để lấy tài sản. Đến khoảng 17h10p cùng ngày, T đến bãi biển L. Sau khi quan sát thấy xe mô tô 78A-700.59 của anh T để cách nơi T ngồi khoảng 5m không ai trông giữ và phát hiện anh T đã bỏ tài sản vào trong cốp xe, T đi đến và lén lút dùng 01 tay nhấc yên xe lên, tay còn lại luồn vào kẽ hở giữa yên xe và sườn xe thì phát hiện trong cốp xe có 01 ví da nên T lấy ví da nhét vào lưng quần rồi lên xe mô tô của T chạy đi. Đi được khoảng 30m thì bị chị N. T. D, anh H. T. M, anh H. T. V và một số người khác (đều ở khu phố L, thị trấn T, huyện A) phát hiện, yêu cầu dừng xe và giữ T lại. Lúc này, T lấy ví da vừa trộm được ra vứt vào bãi đất phía Bắc đường thì bị phát hiện nên người dân báo Công an thị trấn T đến làm việc. Qua kiểm tra ví da thì bên trong có số tiền 2.200.000đ và 01 số giấy tờ tùy thân, gồm: 01 căn cước công dân, 01 giấy phép lái xe hạng B2, 01 thẻ ATM Vietcombank đều mang tên T. N. T, sinh năm 1989, ở khu phố L, phường M, thị xã V, tỉnh B.
Về vật chứng vụ án: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện A đã thu giữ số tiền 2.200.000đ và một số giấy tờ tùy thân của anh T. N. T, sau khi xác định đúng chủ sở hữu đã xử lý trả lại cho anh T.
Tại bản cáo trạng số: 31/CT-VKSPC, ngày 17/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện A đã truy tố bị cáo P. Q. T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện A trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo P. Q. T về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 và không có thay đổi bổ sung gì thêm.
Về tội danh: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo P. Q. T phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Về trách nhiệm hình sự: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 để xử phạt bị cáo P. Q. T với mức án từ 03 – 05 tháng tù. Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Không.
Trong phần tự bào chữa, bị cáo P. Q. T đã thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Lời nói sau cùng bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
. Xét về mặt thủ tục tố tụng: Trong các giai đoạn điều tra, truy tố, cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Hình sự và Bộ luật tố tụng hình sự 2015. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà bị cáo và bị hại đều không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, có đủ căn cứ để xác định: ở các giai đoạn tố tụng này, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, hành vi của những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp; quyền và nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng được đảm bảo, các nguyên tắc trong tố tụng hình sự được tôn trọng và thực hiện đầy đủ theo quy định của pháp luật hình sự.
. Xét nội dung của vụ án và hành vi của bị cáo thực hiện, Hội đồng xét xử thấy rằng: Tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi diễn biến của vụ án như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Lời khai của bị cáo trước Tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra làm rõ tại phiên tòa. Như vậy, có đủ cơ sở chứng cứ và yếu tố pháp lý kết luận:
Là một thanh niên mới trưởng thành có đầy đủ sức khỏe để lao động nuôi sống bản thân, tuy nhiên với bản tính chây lười, chỉ vì muốn có tiền tiêu xài cá nhân, với mục đích đến khu vực đông người đi tắm biển để thực hiện hành vi trộm cắp. Khi thấy xe mô tô 78A-700.59 của anh T để tại bãi biển L không có người trông giữ và thấy anh T bỏ tài sản vào trong cốp xe nên T đi đến lén lút cạy yên xe lên, rồi luồn tay vào vào lấy được 01 ví da bên trong có số tiền 2.200.000đ (hai triệu hai trăm nghìn đồng) và một số giấy tờ tùy thân của anh T. N. T rồi tẩu thoát thì bị người dân phát hiện, bắt giữ vào khoảng 17h20p ngày 04/7/2022.
Hành vi của bị cáo P. Q. T là hành vi nguy hiểm cho xã hội, đã cố ý chiếm đoạt tài sản của người khác một cách trái pháp luật, gây mất trật tự an toàn xã hội ở địa phương nên cần phải xử lý nghiêm khắc theo quy định của pháp luật hình sự.
. Xét tính chất nguy hiểm của hành vi, lỗi của bị cáo đã thực hiện, hậu quả thiệt hại đã xảy ra, Hội đồng xét xử xác định: Viện kiểm sát nhân dân huyện A, tỉnh B truy tố bị cáo P. Q. T về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Hội đồng xét xử kết luận: Bị cáo P. Q. T phạm tội: “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, do đó cần xét xử bị cáo với mức án nghiêm minh nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và răn đe phòng ngừa chung, góp phần ổn định tình hình an ninh trật tự và an toàn xã hội ở địa phương.
. Xét về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Bị cáo P. Q. T phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự. Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, về cơ bản bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Xét thấy bị cáo là thanh niên mới lớn, không có nghề nghiệp ổn định. Mặt khác người bị hại cũng có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo T nên Hội đồng xét xử xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại khoản 2 Điều 51 để quyết định mức hình phạt phù hợp cho bị cáo, đồng thời áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 để xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt cũng đủ tác dụng răn đe.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa cũng phù hợp với nhận định trên nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
. Về xử lý vật chứng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện A đã thu giữ và trả lại số tiền 2.200.000đ và một số giấy tờ tùy thân của anh T. N. T nên Hội đồng xét xử không xem xét. Đối với chiếc xe mô tô biển số 80C-714.76 bị cáo đã sử dụng để thực hiện việc trộm cắp, xét xe này của bà X - mẹ bị cáo làm chủ sở hữu đã không biết việc T sử dụng xe để trộm cắp tài sản do đó đã xử lý trả lại cho bà X là đúng quy định của pháp luật.
. Về án phí: Theo quy định tại các Điều 135 và 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo P. Q. T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015;
Căn cứ vào các Điều 135 và 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo P. Q. T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo P. Q. T 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt thi hành án.
3. Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Không.
4. Về án phí: Bị cáo P. Q. T phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm sung công quỹ Nhà nước.
5. Về quyền kháng cáo đối với bản án: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án. Riêng người bị hại vắng mặt thời hạn là 15 ngày tính từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ bản án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh B; - VKSND huyện A; - VKSND tỉnh B; - Cơ quan CSĐT Công an huyện A; - Phòng Hồ sơ NVCS CA huyện A; - Chi cục THADS huyện A; - Bị cáo; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu án văn; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa P. L. L |