- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Văn Hoài H phạm “Tội trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 100 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM TỈNH BẾN TRE | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 39/2022/HS-ST Ngày: 24 - 8 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM, TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Thanh Huệ
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lê Thành Đông
Bà Trần Ngọc Diệu
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Minh Thơ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Ông Phạm Công Có - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 8 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 36/2022/TLST-HS ngày 22 tháng 7 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2022/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 8 năm 2022, đối với bị cáo:
Lê Văn Hoài H, sinh ngày 16/9/2004; nơi sinh tỉnh Bến Tre. Nơi cư trú: tỉnh Bến Tre; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Văn H và bà Nguyễn Thị T. Tiền án: không; tiền sự: ngày 16/12/2021 bị Công an xã Tân Lợi Thạnh, huyện Giồng Trôm ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 03/QĐ-XPHC, về hành vi trộm cắp tài sản, mức phạt 750.000 đồng; nhân thân: ngày 10/12/2020, bị Công an xã Tân Lợi Thạnh, huyện Giồng Trôm ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 09/QĐ-XPHC, về hành vi trộm cắp tài sản, mức phạt 750.000 đồng, đã nộp phạt xong. Bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 26/4/2022 cho đến nay. Bị cáo có mặt.
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1986. Nơi cư trú: ấp Bàu , xã H, huyện G, tỉnh Bến Tre (có mặt).
- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Lê Huỳnh Nhựt T - Trợ giúp viên của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Bến Tre (có mặt).
- Bị hại: Anh Nguyễn Văn N, sinh năm 1992. Nơi cư trú: Lợi Thạnh, huyện G, tỉnh Bến Tre (vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Văn Hoài Linh, sinh năm 1993. Nơi cư trú: ấp Giồng Lực, xã Tân Lợi Thạnh, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre (vắng mặt).
- Người làm chứng: Anh Trần Ja Băn, sinh năm 1990. Nơi cư trú: ấp Giồng Lực, xã Tân Lợi Thạnh, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Văn Hoài H bị Công an xã Tân Lợi Thạnh, huyện Giồng Trôm ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 03/QĐ-XPHC ngày 16/12/2021 về hành vi trộm cắp tài sản. Quyết định xử phạt vi phạm hành chính nêu trên đối với Hận chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, mà còn tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, cụ thể:
Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 22/12/2021, Lê Văn Hoài H đang chơi internet tại chợ Cái Mít thuộc xã Thạnh Phú Đông, huyện Giồng Trôm thì nhận được tin nhắn của Nguyễn Văn Tài Linh qua mạng xã hội (facebook) nội dung là “tối nay đi bắt trộm gà của Nhân, tối nay nó đi nhậu rồi”, Hận đồng ý bắt trộm gà để bán cho Linh. Sau khi chơi internet, Hận đến tiệm bi da do Lê Văn Hoằng làm chủ, tại đây Linh đưa cho Hận một điện thoại di động loại cảm ứng, nhãn hiệu OPPO, có gắn sim số thuê bao 0397189525 để Hận liên lạc với Linh khi bắt trộm được gà. Đến khoảng 01 giờ 00 phút ngày 23/12/2021, Hận đi bộ đến nhà anh Nguyễn Văn N tại ấp Tân Lợi, xã Tân Lợi Thạnh, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre, Hận lén lút bắt trộm một con gà trống nòi, lông màu trắng đen đang nhốt trong bội kẻm bên hông nhà. Sau khi trộm được gà, Hận rời khỏi nhà của Nhân định đem gà bán cho Nguyễn Văn Tài Linh thì bị Nhân phát hiện và trình báo cho Công an xã Tân Lợi Thạnh đến lập biên bản sự việc.
Hiện trường vụ án xảy ra tại khu vực sân vườn của anh Nguyễn Văn N tại ấp Tân Lợi, xã Tân Lợi Thạnh, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre, cụ thể: vị trí con gà bị mất trộm được nhốt trong 01 cái bội kẽm; vị trí bội gà cách gốc nhà chính của anh Nhân hướng tây bắc là 1,25 mét; cách hàng rào nhà ông Lê Văn Lô 4,2 mét.
Vật chứng thu giữ:
- 01 con gà trống nòi lông màu trắng đen, trọng lượng 2,7 kg.
- 01 cái áo sơ mi màu trắng, dài tay, đầu ống tay áo bên trái bị mất một phần vải.
- 01 điện thoại di động màu đen, nhãn hiệu Nokia loại bàn phím, có gắn sim số 0349152360.
- 01 điện thoại di động màu hồng, nhãn hiệu OPPO, loại cảm ứng, có gắn sim số 0397189525.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 08/KL-HĐĐG ngày 14/02/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Giồng Trôm, kết luận ngày 23/12/2021: 01 con gà trống nòi, màu lông trắng đen, có trọng lượng 2,7 kg, trị giá 324.000 đồng.
Trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã xử lý vật chứng vào ngày 25/6/2022:
- Trả cho anh Nguyễn Văn N 01 con gà trống nòi, lông màu trắng, đen.
- Trả cho anh Phạm Văn Phi Phố 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, có gắn sim số 0349152360, điện thoại này Nguyễn Văn Tài Linh mượn của Phạm Văn Phi Phố để sử dụng, không liên quan đến vụ án.
Bản cáo trạng số 35/CT-VKS-GT, ngày 20/7/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre truy tố Lê Văn Hoài H về tội “Trộm cắp tài sản" theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự .
Tại phiên tòa:
Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung cáo trạng đã truy tố.
Bị hại là anh Nguyễn Văn N vắng mặt, nhưng có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, trong nội dung đơn đã xác định tài sản bị cáo trộm đã nhận lại được, không có yêu cầu bồi thường gì khác và có yêu cầu giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố về tội danh đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử: tuyên bố bị cáo Lê Văn Hoài H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Về trách nhiệm hình sự: áp dụng điểm a khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 91, Điều 36, Điều 100 của Bộ luật Hình sự. Phạt bị cáo Lê Văn Hoài H có mức án từ 15 tháng đến 18 tháng cải tạo không giam giữ. Không khấu trừ thu nhập đối với bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ.
- Về xử lý vật chứng: áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
+ Tịch thu tiêu hủy: 01 cái áo sơ mi màu trắng, dài tay, đầu ống tay áo bên trái bị mất một phần vải.
+ Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động màu hồng, nhãn hiệu OPPO, loại cảm ứng, có gắn sim số 0397189525.
Người bào chữa cho bị cáo trình bày: thống nhất với tội danh, điều khoản mà Viện kiểm sát đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 173 điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 91; Điều 36 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo mức hình phạt thấp nhất của đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị.
Lời nói sau cùng của bị cáo là đã ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, có yêu cầu giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Giồng Trôm, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo và bị hại, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại phiên tòa, bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người làm chứng vắng mặt, đối với bị hại vắng mặt nhưng có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, về tài sản bị cáo trộm cắp đã được nhận lại và không có yêu cầu bị cáo bồi thường gì khác. Trong quá trình điều tra những người tham gia tố tụng tại phiên tòa vắng mặt nhưng đã có lời khai rõ ràng, sự vắng mặt của những người này không làm trở ngại cho việc xét xử, nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt những người tham gia tố tụng nêu trên theo quy định tại Điều 292 và Điều 293 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra đồng thời phù hợp lời khai bị hại, lời khai của người làm chứng, kết quả khám nghiệm hiện trường cùng các chứng cứ khác của Cơ quan điều tra thu thập. Do đó, có cơ sở xác định: khoảng 01 giờ 00 phút ngày 23/12/2021, Lê Văn Hoài H lén lút bắt trộm 01 con gà trống nòi, lông màu trắng đen, trị giá 324.000 đồng của anh Nguyễn Văn N, tại ấp Tân Lợi, xã Tân Lợi Thạnh, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Sau khi lấy trộm được gà Hận định đem bán cho Nguyễn Văn Tài Linh nhưng chưa đến nơi đã bị anh Nhân phát hiện báo Công an xã Tân Lợi Thạnh lập biên bản sự việc.
Trước đó, vào ngày 16/12/2021 bị cáo bị Công an xã Tân Lợi Thạnh, huyện Giồng Trôm ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 03/QĐ-XPHC, về hành vi trộm cắp tài sản với mức phạt 750.000 đồng, đến ngày 23/12/2021 bị cáo thực hiện hành vi bắt trộm gà của anh Nhân chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính mà còn tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản.
Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm. Như vậy, có đủ căn cứ xác định hành vi của bị cáo Lê Văn Hoài H phạm "Tội trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan cho bị cáo.
Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: xuất phát từ động cơ vụ lợi cá nhân, bị cáo đã có hành vi lén lút trộm tài sản với ý định sẽ bán để lấy tiền tiêu xài, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội không những xâm phạm trực tiếp đến tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bị hại được pháp luật bảo vệ mà còn làm ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn tại địa phương nơi bị cáo thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy, đối với bị cáo cần xét xử nghiêm theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, tại thời điểm phạm tội bị cáo là người chưa thành niên, nên cần áp dụng nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội khi áp dụng hình phạt đối với bị cáo.
Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về nhân thân: Bị cáo đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản, chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính mà còn tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, do đó bị cáo có nhân thân xấu.
- Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: ngoài tình tiết định tội, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tài sản bị cáo trộm đã bị bắt quả tang và đã trả lại cho bị hại nên chưa gây thiệt hại; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình; bị hại có yêu cầu giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, bị cáo được xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự .
Qua phân tích, xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, xét thấy bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có 03 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, khi phạm tội bị cáo chưa thành niên nên nhận thức pháp luật có phần hạn chế. Do vậy, xem xét áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo, giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã nơi bị cáo cư trú phối hợp với gia đình giám sát, giáo dục cũng đủ để răn đe, cải tạo, giáo dục bị cáo.
Về khấu trừ thu nhập: khi áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo là người dưới 18 tuổi thì không khấu trừ thu nhập của bị cáo theo quy định tại khoản 2 Điều 100 Bộ luật Hình sự.
Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:
Trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã xử lý các vật chứng:
- Trả cho anh Nguyễn Văn N 01 con gà trống nòi, lông màu trắng đen;
- Trả cho anh Phạm Văn Phi Phố 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, có gắn sim số 0349152360, điện thoại Nguyễn Văn Tài Linh mượn của Phạm Văn Phi Phố để sử dụng, không liên quan đến vụ án.
Xét thấy việc xử lý các vật chứng nêu trên của Cơ quan điều tra là phù hợp với quy định của pháp luật, nên ghi nhận.
- 01 cái áo sơ mi màu trắng, dài tay, đầu ống tay áo bên trái bị mất một phần vải của bị cáo không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
- 01 điện thoại di động màu hồng, nhãn hiệu OPPO, loại cảm ứng, có gắn sim số 0397189525 của Linh đưa cho bị cáo sử dụng là công cụ phạm tội, nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước quy định tại điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Về trách nhiệm dân sự: ghi nhận bị hại anh Nguyễn Văn N đã nhận 01 con gà trống nòi, lông màu trắng đen và không yêu cầu bồi thường gì khác.
Đối với Nguyễn Văn Tài Linh có hành xúi giục Lê Văn Hoài H trộm cắp tài sản là con gà trống nòi của anh Nguyễn Văn N để mua lại, nhưng Linh không có tiền án, tiền sự về hành vi chiếm đoạt tài sản nên hành vi của Linh không cấu thành “Tội trộm cắp tài sản” với vai trò đồng phạm với bị cáo Hận, quy định tại Điều 173 Bộ luật Hình sự. Công an huyện Giồng Trôm đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Linh về hành vi trộm cắp tài sản, mức phạt 1.500.000 đồng là có căn cứ.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đối với mức hình phạt của bị cáo và xử lý vật chứng là phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.
Đối với đề nghị của người bào chữa cho bị cáo, xét thấy đề nghị về áp dụng điều luật và mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo Lê Văn Hoài H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Lê Văn Hoài H phạm “Tội trộm cắp tài sản”.
1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 91; Điều 36; Điều 100 của Bộ luật Hình sự.
Phạt bị cáo Lê Văn Hoài H 01(một) năm 03 (ba) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án. Giao bị cáo Lê Văn Hoài H cho Ủy ban nhân dân xã Hưng Lễ, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre kết hợp cùng với gia đình để giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian chấp hành hình phạt. Không khấu trừ thu nhập đối với bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ.
2.Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: áp dụng điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
- Tịch thu và tiêu hủy: 01(một) cái áo sơ mi màu trắng, dài tay, đầu ống tay áo bên trái bị mất một phần vải của bị cáo.
- Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước: 01(một) điện thoại di động màu hồng, nhãn hiệu OPPO, loại cảm ứng, có gắn sim số 0397189525 .
(theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 23/8/2022, Chi cục Thi hành án dân sự huyện Giồng Trôm, đang quản lý).
3. Về án phí: áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Lê Văn Hoài H phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa cho bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bến Tre; - VKSND tỉnh Bến Tre; - VKSND huyện Giồng Trôm; - Cơ quan THAHS CA huyện Giồng Trôm; - Chi cục THA dân sự huyện Giồng Trôm; - Cơ quan điều tra CA huyện Giồng Trôm; - Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre; - UBND xã Hưng Lễ, huyện Giồng Trôm; - Bị cáo; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Bộ phận thi hành án hình sự; - Lưu: Văn phòng, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Thị Thanh Huệ |