- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm căp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? 1/ Tuyên bố bị cáo Kim A phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ GẠO TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| -Bản án số: 39/2022/HS-ST -Ngày: 09/9/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ GẠO, TỈNH TIỀN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
* Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Tài
* Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Bé
2. Bà Lê Thị Ngọc B
* Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Dương Kim Cương Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo tham gia phiên tòa: ông Đỗ Huỳnh Thanh Tân Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 9 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 29/2022/TLST-HS ngày 11 tháng 8 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2022/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 8 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo đối với bị cáo:
KIM A, sinh năm 1968, tại tỉnh Long An. Nơi đăng ký thường trú: Số 79/8 ấp M, xã N, huyện X, tỉnh Long An. Nơi ở hiện nay: Đường M1, Phường N, Thành phố Y, tỉnh Long An. Giới tính: Nam. Dân tộc: Kinh. Quốc tịch: Việt Nam. Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 02/12. Nghề nghiệp: Chạy xe honda ôm. Con ông Kim A1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị A2 (đã chết). Vợ: Lại Thị C. Tiền sự: Không. Tiền án: 01 lần. Ngày 16/12/1988, Kim A bị Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 07 năm tù về tội “Giết người, cướp tài sản của công dân” theo bản án số 611/HS-PT. Kim A đã chấp hành xong hình phạt tù nhưng chưa được xóa án tích. Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 23/6/2022 tại Nhà tạm giữ Công an huyện Chợ Gạo cho đến nay và có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại: Nguyễn Thị B, sinh năm 1967 (vắng mặt)
Địa chỉ: ấp M2, xã N2, huyện P, tỉnh Tiền Giang
* Người làm chứng: Lại Thị C, sinh năm 1967 (vắng mặt)
Địa chỉ: Đường M1, Phường N, Thành phố Y, tỉnh Long An
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 06 giờ 45 phút ngày 04/3/2022, Kim A điều khiển xe mô tô hai bánh kiểu dáng Dream biển số 52U3 – 8893 chở khách từ đi Thành phố Y, tỉnh Long An đến địa bàn xã N2, huyện P, tỉnh Tiền Giang (A làm nghề chạy xe Honda ôm). Sau khi khách xuống xe, A điều khiển xe chạy vào Cửa hàng xăng dầu và vật tư nông nghiệp Út Cao thuộc ấp M3, xã N2, huyện P để đổ xăng. Sau đó, A đi bộ ra phía sau cửa hàng để đi vệ sinh thì nhìn thấy xe đạp điện của bà Nguyễn Thị B (bà B là nhân viên làm việc tại cửa hàng) dựng cập vách tường trên đường đi ra nhà vệ sinh, trong rổ xe có một túi vải màu đỏ nên A nảy sinh ý định mở cái túi tìm tài sản lấy trộm. Sau khi đi vệ sinh xong, A quan sát không thấy người trong coi tài sản nên A mở túi vải ra xem thì thấy bên trong có một bóp vải màu đen, A mở bóp ra, bên trong có một xấp tiền mệnh giá 500.000 đồng, A lấy tiền ra đếm được 11 tờ và 01 giấy chứng minh nhân dân của bà B kẹp trong số tiền đó. Do sợ bị phát hiện nên A nhanh chóng lấy số tiền và giấy chứng minh nhân dân bỏ vào túi quần, để cái bóp vào chỗ cũ rồi đi ra ngoài lên xe tẩu thoát. Số tiền trộm được Kim A đã tiêu xài cá nhân hết. Đến ngày 22/3/2022, bà B trình báo sự việc đến Công an xã N2 và cung cấp hình ảnh đối tượng nghi vấn. Qua làm việc, Kim A thừa nhận hành vi lấy trộm tiền của bà B.
Tại Cáo trạng số 30/CT-VKSCG ngày 22 tháng 8 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang truy tố bị cáo Kim A về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát huyện Chợ Gạo giữ nguyên quyết định truy tố về tội danh và điều luật áp dụng như nội dung Cáo trạng; qua phân tích, đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Kim A phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Kim A từ 09 tháng đến 12 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Tại cơ quan điều tra , bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại với số tiền 6.600.000 đồng, bị cáo đã bồi thường xong đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận.
Về xử lý vật chứng:
Đề nghị tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 xe mô tô kiểu dáng Dream màu nho, số máy VHLFM152FMH-V00304389, số khung không đọc được;
Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 biển số 52U3 – 8893 và 01 nón bảo hiểm màu trắng.
Về án phí: Bị cáo có tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến tranh luận, bị cáo thống nhất với Cáo trạng, bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, về hình phạt, xử lý vật chứng. Bị cáo có lời nói sau cùng, bị cáo biết mình có hành vi vi phạm pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt, tạo điều kiện cho bị cáo sớm trở về phụ giúp gia đình và trở thành người có ích cho xã hội để làm lại cuộc đời.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, lời trình bày của bị cáo, bị hại, người làm chứng, ý kiến của Kiểm sát viên;
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Chợ Gạo, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị hại, người làm chứng vắng mặt không lý do. Nhận thấy, việc vắng mặt bị hại, người làm chứng không ảnh hưởng đến việc xét xử đối với bị cáo, bị cáo đồng ý tiếp tục xét xử nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292, Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự tiếp tục phiên tòa xét xử đối với bị cáo.
[3] Hành vi phạm tội: Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận: khoảng 06 giờ 45 phút ngày 04/3/2022, tại Cửa hàng xăng dầu và vật tư nông nghiệp Út Cao thuộc ấp M3, xã N2, huyện P, Kim A đã có hành vi trộm cắp số tiền 5.500.000 đồng và 01 giấy chứng minh nhân dân của bà Nguyễn Thị B. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng kết quả khám nghiệm hiện trường, vật chứng thu giữ được và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
[4] Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Điều luật quy định“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng....thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”
Vì vậy Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo đã truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật, đúng người, đúng tội.
[5] Tính chất, mức độ hành vi: Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, làm mất trật tự trị an tại địa phương, gây hoang mang, bất bình cho quần chúng nhân dân. Bản thân bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo biết trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn thực hiện. Để phục vụ mục đích của bản thân, bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở, mất cảnh giác của bị hại, bị cáo lấy trộm của bị hại số tiền 5.500.000 đồng và một giấy chứng minh nhân dân nên bị cáo phải chịu trách nhiệm về hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra và cần phải xử lý nghiêm bằng pháp luật hình sự đồng thời cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo đồng thời phòng ngừa chung cho mọi người.
[6] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng, nhân thân:
+ Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại nên đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
+ Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội khi chưa được xóa án tích nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
+ Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, từng có tiền án, cụ thể: Ngày 16/12/1988, Kim A bị Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 07 năm tù về tội “Giết người, cướp tài sản của công dân” theo bản án số 611/HS-PT. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù. Kết quả xác minh Cục Thi hành án dân sự tỉnh Long An không thụ lý tổ chức thi hành đối với việc đóng án phí của Kim A theo bản án trên. Căn cứ khoản 7 Mục I Công văn số 64/TANDTC-PC ngày 03/4/2019 của Tòa án nhân dân tối cao thông báo kết quả giải đáp trực tuyến một số vướng mắc về hình sự, dân sự và tố tụng hành chính thì Kim A chưa chấp hành xong hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án. Do đó, bị cáo Kim A chưa được xóa án tích.
+ Đồng phạm: Vụ án này không có đồng phạm.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 6.600.000 đồng. Bị cáo đã bồi thường xong và bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[8] Về vật chứng:
Đối với 01 xe mô tô kiểu dáng Dream màu nho, biển số 52U3 – 8893. Số máy VHLFM152FMH-V00304389, số khung không đọc được. Xe này Kim A khai mua ở một tiệm sửa xe (không nhớ tên, địa chỉ) ở huyện X, tỉnh Long An. Khi mua không có làm giấy tờ, xe không có giấy chứng nhận đăng ký xe. Kết quả xác minh theo biển số 52U3 – 8893 thì xe nhãn hiệu ATTILA, do chị Trương Thị Cẩm D, ngụ số Cư xá G, Phường N3, Quận P1, thành phố Hồ Chí Minh là chủ sở hữu. Chị D hiện tại đã bỏ đi khỏi địa phương, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Chợ Gạo không làm việc được. Kết quả tra cứu số máy VHLFM152FMHV00304389 tại Công an huyện Chợ Gạo không tìm thấy dữ liệu tra cứu và theo Kết luận giám định số 465/KL-KTHS (Đ2) ngày 29/4/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Tiền Giang kết luận: Số khung trước giám định: RRKDCG1UM7XE 0148x… Số khung sau giám định: phát hiện dấu vết cắt hàn miếng kim loại kích thước (8,5x1,6) cm. Trên đó có đóng dãy chữ số: RRKDCG1UM7XE 0148x… (x là ký hiệu ký tự chữ số bị hàn khuất, không đọc được chữ số). Số máy: VHLFM152FMH-V00304389 trước và sau giám định không đổi. Do bị cáo sử dụng xe để làm phương tiện tẩu thoát sau khi trộm cắp tài sản, xe không có nguồn gốc rõ ràng; biển số xe không phải là biển số của xe mô tô này do đó Hội đồng xét xử quyết định tịch thu sung công quỹ Nhà nước đối với xe này và tịch thu tiêu hủy đối với biển số xe biển số 52U3 – 8893.
Đối với 01 nón bảo hiểm màu trắng là nón của bị cáo, không giá trị sử dụng, bị cáo không yêu cầu nhận lại nên tịch thu tiêu hủy.
[9] Xét ý kiến Đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận thấy:
+ Về tội danh, mức hình phạt, Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là tương xứng với hành vi, vai trò, nhân thân thân của bị cáo đã gây ra nên Hội đồng xét xử có xem xét, cân nhắc khi nghị án.
+ Về xử lý vật chứng Viện kiểm sát đề nghị là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
+ Về trách nhiệm hình sự, dân sự: Viện kiểm sát đề nghị là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[10] Về án phí: Bị cáo có tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
[11] Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử theo trình tự phúc thẩm. Đối với bị hại vắng mặt, thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1/ Tuyên bố bị cáo Kim A phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi và bổ sung năm 2017
* Xử phạt bị cáo Kim A 01 (Một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 23/6/2022.
2/ Về vật chứng:
Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 xe mô tô kiểu dáng Dream màu nho số máy VHLFM152FMH-V00304389, số khung không đọc được.
Tịch thu tiêu hủy biển số 52U3 – 8893 và 01 nón bảo hiểm màu trắng.
3/ Về án phí hình sự sơ thẩm: áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Kim A phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm
4/ Về quyền kháng cáo: áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử theo thủ tục phúc thẩm. Đối với bị hại vắng mặt, thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| * Nôi nhaän: - TAND tỉnh Tiền Giang; - VKSND huyện Chợ Gạo; - Cc. THADS huyện Chợ Gạo; - Công an huyện Chợ Gạo; - Bị cáo, bị hại...; - Lưu hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán -Chủ tọa phiên tòa Phạm Văn Tài |