vanban.org

Bản án 39/2022/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Nghệ An Tuyên án 15/03/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 15/03/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Cảnh Đ sửa bản án sơ thẩm, giữ nguyên mức hình phạt tù và cho bị cáo được hưởng án treo.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Cảnh Đ phạm: “Tội cố ý gây thương tích” Xử phạt bị cáo Nguyễn Cảnh Đ 24 tháng tù cho hưởng án treo; thử thách 48 tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án hình sự về "Tội cố ý gây thương tích" - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa…"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Cảnh Đ sửa bản án sơ thẩm, giữ nguyên mức hình phạt tù và cho bị cáo được hưởng án treo.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự tuyên bố; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 39/2022/HS-PT
Ngày: 15 - 3 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: ông Ngô Sỹ Tiến.

Các Thẩm phán:

ông Nguyễn Anh Sơn;

ông Nguyễn Đức Thi.

- Thư ký phiên tòa: bà Đậu Thị Bích Thủy - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Mai Hoa - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 3 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử công khai vụ án Hình sự phúc thẩm thụ lý số 320/2021/TLPT-HS, ngày 17 tháng 12 năm 2021, đối với bị cáo Nguyễn Cảnh Đ do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 80/2021/HS-ST, ngày 11 tháng 11 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An.

- Bị cáo kháng cáo:

Họ và tên Nguyễn Cảnh Đ (giới tính Nam); sinh ngày 02 tháng 7 năm 1998, tại huyện TC, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Xóm 1, xã T, huyện TC, tỉnh Nghệ An. Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12, quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo không; con bà Nguyễn Thị Ng, chưa xác định được cha; vợ, con chưa có;

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, (có mặt tại phiên toà).

- Bị hại không kháng cáo:

Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1964;

Địa chỉ: thôn ĐT, Xã T, huyện TC, tỉnh Nghệ An; (vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ ngày 05/02/2021, ông Nguyễn Văn H (sinh năm 1964, trú tại thôn ĐT, xã T, huyện TC, tỉnh Nghệ An) cùng vợ là bà Thái Thị V đi đến nhà thờ họ ở thôn ĐT, xã T, huyện TC, tỉnh Nghệ An. Khi đến nơi, ông H gặp Nguyễn Văn L (là cháu ruột gọi ông H bằng bác) đang sửa chữa mái tôn nhà thờ và nhà bà nội Nguyễn Thị H1. Tại đây, ông H và Nguyễn Văn L xảy ra mâu thuẫn, cãi vã với nhau liên quan đến việc làm mái tôn, ảnh hưởng đến cây cối, hệ thống điện khu vực nhà thờ. Khi ông Nguyễn Văn H cầm con dao dài khoảng 30 cm ở tay phải, Nguyễn Văn L chạy đến bờ rào, lấy một gậy tre (dạng cán chổi, dài 91 cm), đánh trúng vào vùng lưng, bên trái của ông H. Nguyễn Cảnh Đ là người được Nguyễn Văn L thuê làm mái tôn nhà thờ, lúc này Đ đang mài thanh sắt để hàn ở tại nhà L gần đó (sát nhà bà H1). Nguyễn Cảnh Đ nghe tiếng Nguyễn Văn L gọi đến để đánh ông Nguyễn Văn H, thấy vậy, Đ cầm một khúc gỗ chạy đến, ném về phía ông H nhưng không trúng, tay trái cầm một viên gạch đỏ (dạng gạch nửa dài 12 cm), Đ chuyển sang tay phải cầm, ném trúng vào vùng mặt ông H gây thương tích. Ông H đi vào nhà thờ tiếp tục chửi L và Đ. Nguyễn Cảnh Đ cầm một tuýp sắt dài khoảng 02 m đi vào, nhưng không thấy ông H cầm dao nữa nên Đ vứt ống tuýp, cùng L đi về nhà ở xã T. Khi xẩy ra vụ việc, người xung quanh can ngăn, đưa ông Nguyễn Văn H đi sơ cứu tại Trạm xá xã T, sau đó chuyển đến Bệnh viện Đa khoa huyện TC điều trị từ ngày 05/02/2021 đến ngày 10/02/2021 thì ra viện.

Tại Bản kết luận giám định số 80/TTPY ngày 09/3/2021 của Trung tâm Pháp y Sở Y tế tỉnh Nghệ An kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể của ông Nguyễn Văn H do thương tích gây nên hiện tại là: 14% (mười bốn phần trăm).

Người bị hại trình bày: Khoảng 14 giờ ngày 05/02/2021, ông Nguyễn Văn H cùng với vợ là Thái Thị V đi đến nhà thờ họ để lấy một số dụng cụ mang về nhà, khi đến nhà thờ thì gặp cháu ruột là Nguyễn Văn L đang sửa chữa, làm mới mái tôn của khu vực Nhà thờ, do Nguyễn Văn L sửa chữa mái tôn ảnh hưởng đến hệ thống điện và cây cối ở khu vực nhà thờ, cho nên hai bên đã xảy ra lời qua tiếng lại. Nguyễn Văn L gọi Nguyễn Cảnh Đ là người làm thuê mái tôn cho L đang ở dưới nhà bố mẹ L đến để đánh ông H. Khi Đ đi đến tay phải cầm một khúc gỗ, tay trái cầm một viên gạch. Khi ông H đang ở dưới sân, cách L khoảng 01 m, thì L sử dụng gậy tre bằng tay phải đánh từ trên xuống trúng vào lưng bên trái của ông, liền lúc đó Đ cách đó khoảng 02m ném khúc gỗ về phía ông, nhưng không trúng, sau đó Đ tiếp tục sử dụng viên gạch đang cầm tay trái chuyển sang tay phải và ném trúng vào vùng trán và sống mũi của ông, làm ông ngã ra và được mọi người can ngăn. Một lúc sau lại thấy Đ cầm một ống típ vuông đi đến chỗ ông H, nhưng thấy đông người nên Đ đi về. Ông H được gia đình đưa đi điều trị tại Bệnh viện Đa khoa huyện TC từ ngày 05/02/2021 đến ngày 10/02/2021 thì ra viện. Hậu quả ông Nguyễn Văn H bị thương tại vùng trán và sống mũi (khâu 10 mũi và gãy xương cánh mũi), với tỷ lệ thương tích là 14%. Về trách nhiệm hình sự, ông H đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật. Về trách nhiệm dân sự, ông H yêu cầu bị cáo bồi thường tiền viện phí, thuốc men và tổn hại sức khỏe tổng cộng toàn bộ là: 10.000.000 đồng.

Với nội dung như trên, Bản án Hình sự sơ thẩm số: 80/2021/HS-ST, ngày 11 tháng 11 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An đã quyết định:

Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; Điều 106, 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 584, 585, 590 của Bộ luật Dân sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án xử:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Cảnh Đ phạm “Tội cố ý gây thương tích”;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Cảnh Đ 24 (hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án,

- Về bồi thường dân sự:

Buộc bị cáo Nguyễn Cảnh Đ có trách nhiệm bồi thường toàn bộ các chi phí điều trị do thiệt hại về sức khoẻ cho người bị hại là ông Nguyễn Văn H, với số tiền: 10.000.000 đồng (mười triệu đồng); bị cáo đã bồi thường trước được 3.000.000 đồng (ba triệu đồng), bị cáo phải bồi thường tiếp số tiền còn lại là: 7.000.000 đồng (bảy triệu đồng).

Ngoài ra Bản án còn tuyên về xử lý vật chứng; nghĩa vụ thi hành án dân sự; cách thức thi hành án dân sự; về án phí và quyền kháng cáo của bị cáo, bị hại theo quy định của pháp luật.

Ngày 12/11/2021, bị cáo Nguyễn Cảnh Đ kháng cáo với nội dung: Bị cáo bị Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt hai năm tù là quá nặng. Trong vụ án này bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ như sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; có trách nhiệm hợp tác với cơ quan điều tra để điều tra vụ án; Bị cáo tuổi đời còn trẻ, bồng bột, nên đã gây ra vụ án; hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, có mẹ già, không còn khả năng lao động, bị ốm đau bệnh tật; Bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật của Nhà nước; luôn năng nổ trong các hoạt động tại địa phương và vừa hoàn thành nghĩa vụ quân sự. Do bị cáo bị xử phạt hình phạt không quá 3 năm tù, có nhân thân tốt, có nơi cư trú ổn định, căn cứ vào quy định của pháp luật về hình phạt tù cho hưởng án treo, Bị cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Bị hại ông Nguyễn Văn H không có mặt tại phiên tòa phúc thẩm, tuy nhiên ngày 08 tháng 3 năm 2022, ông Nguyễn Văn H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt mình và xác định bị cáo đã bồi thường đầy đủ thiệt hại, ông không yêu cầu gì thêm về Dân sự. Do bị cáo đã biết ăn năn hối cải, tự nguyện bồi thường đầy đủ thiệt hại theo quyết định của Bản án sơ thẩm, ông H đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo được hưởng án treo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

Kiểm sát viên xác định bị cáo kháng cáo trong thời hạn luật định, hình thức và nội dung kháng cáo phù hợp với quy định của pháp luật cho nên được Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An thụ lý, xét xử phúc thẩm là đúng thẩm quyền.

Về nội dung: Chỉ vì việc mâu thuẫn trong việc sửa chữa mái tôn nhà thờ, Do bức xúc Bị cáo dùng nửa viên gạch ném gây thương tích cho bị hại 14%. Bản án sơ thẩm quyết định xét xử bị cáo về Tội cố ý gây thương tích theo điểm đ khoản 2 Điều 134 là đúng pháp luật. Tuy nhiên, hình phạt mà bản án sơ thẩm đã tuyên với bị cáo 2 năm tù là quá nghiêm khắc. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nhân thân tốt; tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo có thêm tình tiết giảm nhẹ mới là đã bồi thường toàn bộ thiệt hại về sức khỏe cho bị hại. Bị hại ông Nguyễn Văn H đã làm đơn gửi Tòa án cấp phúc thẩm đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định ở khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, vì vậy cần chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo chưa cần bắt bị cáo phải chấp hành hình phạt tù, giữ nguyên mức hình phạt của bản án sơ thẩm, cải biện pháp cho bị cáo được hưởng án treo.

Trách nhiệm dân sự: về bồi thường thiệt sức khoẻ, bản án sơ thẩm đã xem xét và quyết định mức bồi thường thiệt hại trên cơ sở thỏa thuận tự nguyện của bị cáo và bị hại, bị cáo đã bồi thường đầy đủ cho người bị hại ông Nguyễn Văn H, vì vậy:

Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; sửa bản án sơ thẩm, giữ nguyên mức hình phạt tù và cho bị cáo được hưởng án treo

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Cảnh Đ 24 tháng tù cho hưởng án treo, thử thách 48 tháng về: “Tội cố ý gây thương tích”

Về án phí: Kháng cáo của bị cáo được chấp nhận cho nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Bị cáo không tranh luận, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo dược hưởng án treo bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Chủ thể kháng cáo, thời hạn kháng cáo, hình thức đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Cảnh Đ phù hợp với quy định pháp luật nên có cơ sở để được xem xét theo trình tự, thủ tục phúc thẩm.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo, thấy rằng:

Do mâu thuẫn giữa bác cháu ông Nguyễn Văn H và Nguyễn Văn L trong việc sửa chữa nhà thờ và nhà bà Nguyễn Thị H1 (bà nội L), L và ông H cãi vã, thách thức lẫn nhau. Nguyễn Văn L đã lấy một chiếc gậy tre (loại cán chổi dài 91 cm) đánh trúng vào vùng lưng bên trái của ông H. Do được L gọi để đánh ông H, khi Đ đi đến tay phải cầm một khúc gỗ, ném khúc gỗ về phía ông H nhưng không trúng, sau đó Đ tiếp tục sử dụng nửa viên gạch ném trúng vào vùng trán và sống mũi của ông, làm ông H bị thương. Ông H đã được đưa đến trạm xá xã sơ cứu vết thương, sau đó chuyển Bệnh viện Đa khoa huyện T điều trị từ ngày 05/02/2021 đến ngày 10/02/2021 ra viện, theo kết luận giám định tỷ lệ thương tích là 14%. Như vậy, bị cáo đã dùng hung khí là nửa viên gạch gây thương tích cho ông Nguyễn Văn H với thương tích 14%, vì vậy, Bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Thanh Chương đã căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự tuyên bố bị cáo Nguyễn Cảnh Đ phạm “Tội cố ý gây thương tích” là đúng với quy định của pháp luật.

Đối với Nguyễn Văn L có hành vi đồng phạm trong việc gây thương tích cho ông H, tuy nhiên hiện nay Nguyễn Văn L đang trốn khỏi địa phương, cơ quan điều tra đã tách vụ án, ra quyết định truy nã, chưa xử lý trong vụ án này là có căn cứ.

Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Cảnh Đ, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm, dùng hung khí ném vào vùng mặt ông H, mức hình phạt 24 tháng tù mà cấp sơ thẩm áp dụng với bị cáo là mức khởi điểm của khung hình phạt. Để có tác dụng phòng ngừa thì mức hình phạt 24 tháng là cần thiết để bị cáo có đủ thời gian tu dưỡng, tự cải tạo mình, do đó không chấp nhận kháng cáo xin giảm hình phạt với bị cáo.

Về kháng cáo cho được hưởng án treo, xét thấy tại cơ quan điều tra, cũng như tại các phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; đã tự nguyện bồi thường được một phần thiệt hại cho bị hại, đây là các tình tiết giảm nhẹ hình phạt theo quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Sau khi phạm tội bị cáo đến cơ quan điều tra để đầu thú là tình tiết giảm nhẹ theo quy định ở khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Tại cấp phúc thẩm bị cáo có thêm tình tiết giảm nhẹ mới là đã bồi thường toàn bộ thiệt hại về sức khỏe cho bị hại, bị hại ông Nguyên Văn H đã làm đơn gửi Tòa án cấp phúc thẩm đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo. Xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, vừa hoàn thành nghĩa vụ quân sự về địa phương, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trong đó có hai tình tiết giảm nhẹ ở khoản 1 và hai tình tiết giảm nhẹ ở khoản 2 của Điều 51 của Bộ luật Hình sự; bị cáo có nơi cư trú ổn định, vì vậy không cần thiết phải bắt chấp hành hình phạt tù cho bị cáo được hưởng án treo với thời gian thử thách theo quy định của pháp luật cũng có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và bị hại thỏa thuận bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm cho bị hại, ông Nguyễn Văn H không có yêu cầu gì thêm về dân sự, do đó Tòa án cấp phúc thẩm không xem xét.

Từ nhận định trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy cần chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm giữ nguyên mức hình phạt tù của bản án sơ thẩm, cải biện pháp cho bị cáo được hưởng án treo.

Về án phí phúc thẩm: Kháng cáo của bị cáo được chấp nhận cho nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ thời điểm hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Cảnh Đ sửa bản án sơ thẩm, giữ nguyên mức hình phạt tù và cho bị cáo được hưởng án treo.

2. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Cảnh Đ phạm: “Tội cố ý gây thương tích”

Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Cảnh Đ 24 tháng tù cho hưởng án treo; thử thách 48 tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Giao Nguyễn Cảnh Đ cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện TC, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách; gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì việc thi hành hình phạt tù cho hưởng án treo được thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách của án treo, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc bị cáo phải chấp hành của bản án trước và tổng hợp hình phạt với bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.

4. Về án phí phúc thẩm:

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Bị cáo Nguyễn Cảnh Đ không phải chịu án phí Hình sự phúc thẩm.

5. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ thời điểm hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ