vanban.org

Bản án 39/2022/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Hưng Yên Tuyên án 08/07/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 08/07/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Dương Thanh T. S a bản án hình sự sơ thẩm số 16/2022/HS-ST ngày 18/02/2022 của Toà án nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên.

Áp dụng: Khoản 1 điều 173; điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ lụât Hình sự. Tuyên bố: Bị cáo Dương Thanh T phạm tội Trộm cắp tài sản. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Dương Thanh T phạm tội Tộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Dương Thanh T. S a bản án hình sự sơ thẩm số 16/2022/HS-ST ngày 18/02/2022 của Toà án nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên.
  • Căn cứ chính? Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HƯNG YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 39/2022/HS-PT
Ngày: 08/7/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Tuấn Hưng;

Các thẩm phán: Ông Vũ Thành Long và ông Nguyễn Duy Phượng.

- Thư ký phiên toà: Ông Lê Như Hòa – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên toà: Ông Vũ Đức Thủy – Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên mở phiên tòa x t x phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 36/2022/TLPT-HS ngày 29 tháng 4 năm 2022, đối với bị cáo Dương Thanh T, do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 16/2022/HS-ST ngày 18/02/2022 của Toà án nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên.

Bị cáo có kháng cáo:

Dương Thanh T, sinh năm 1997, tại huyện V, tỉnh Y. Nơi cư trú: Thôn M, xã T, huyện V, tỉnh Y; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Thanh M (tại Tòa bị cáo khai còn có tên Dương Văn M) và con bà Trịnh Thị K; tiền án, tiền sự: Chưa có. Về nhân thân: Bị cáo khai đầu tháng 7/2022 có hành vi trộm cắp tài sản là chiếc xe máy của ông T, ở Lạc Đạo, Văn Lâm và bị Công An huyện Văn Lâm đang x lý. Hiện bị cáo đang được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

Bị hại:

- Chị Nguyễn Thị M, sinh năm 1962; có mặt;

Nơi cư trú: Thôn G, xã L, huyện V, Hưng Yên.

- Chị Đỗ Thị L, sinh năm 1974; có mặt;

Nơi cư trú: Thôn C, xã L, huyện V, Hưng Yên.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Anh Trần Duy T, sinh năm 1974; vắng mặt;

Nơi cư trú: Thôn N, thị trấn N, huyện V, Hưng Yên.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Dương Thanh T, sinh năm 1997 ở thôn M, xã T, huyện V, tỉnh Yên Bái, hiện là công nhân Công ty TNHH thương mại và điện t Tuấn Long ở thôn Hoằng, xã Lạc Đạo, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên. Ngày 04/10/2021, T đến Công ty làm việc tại xưởng bắt ốc vít, cùng làm với T còn có chị Nguyễn Thị M ở thôn Giữa và chị Đỗ Thị L ở thôn Cầu, xã Lạc Đạo. Khi làm việc thì chị M để 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S, màu vàng đồng trên bề mặt vỏ chiếc loa kích cạnh vị trí ngồi, còn chị L để 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SamSung A30, màu xanh trên bề mặt chiếc loa trầm gần chỗ ngồi. Đến khoảng 7 giờ 30 phút cùng ngày, chị M đi dọn vệ sinh khu xưởng còn chị L đi k o loa thùng vào xưởng để bắt vít. Lợi dụng sơ hở của chị M và chị L, T đã l n lút dùng tay phải lấy 02 chiếc điện thoại nêu trên đút vào túi quần phía trước bên phải rồi đi ra khỏi công ty. T đi bộ đến trục đường thôn Hành Lạc thì tháo 02 thẻ sim của 02 chiếc điện thoại và 01 thẻ nhớ vứt ở rìa đường. Sau đó, T đi xe ôm của một người đàn ông không rõ tên, địa chỉ đến quán điện thoại “Trung Hiếu” của anh Trần Duy Tùng ở thôn Như Quỳnh, thị trấn Như Quỳnh, huyện Văn Lâm. T bán 02 chiếc điện thoại cho anh Tùng với giá 1.400.000đ. Số tiền này, T đã trả tiền xe ôm hết 100.000đ và cho bạn chỉ biết tên là Vàng A Thư quê ở Hà Giang vay 800.000đ, còn lại 500.000đ T cất giữ trong người. Khi phát hiện bị mất tài sản, chị M và chị L đã có đơn trình báo đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Văn Lâm x lý theo quy định pháp luật, sau đó hành vi của T bị phát hiện. Khám x t khẩn cấp nơi ở trọ của T không thu giữ đồ vật, tài liệu gì. T cũng tự nguyện giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Văn Lâm số tiền 500.000đ do bán điện thoại mà có. Cùng ngày 04/10/2021, Cơ quan điều tra đưa T đi chỉ dẫn vị trí vứt thẻ sim, thẻ nhớ đã thu giữ được 01 sim điện thoại số 0397.960.050, 01 thẻ nhớ nhãn hiệu SanDisk 8G của chị L, còn thẻ sim của chị M không thu giữ được. Và cho T chỉ dẫn nơi bán điện thoại, sau khi biết 02 chiếc điện thoại của T là tài sản trộm cắp, anh Tùng đã tự nguyện giao nộp lại cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Văn Lâm quản lý. Đồng thời, anh Tùng giao nộp cho Cơ quan điều tra 01 đĩa DVD chứa 01 tệp video ghi lại hình ảnh T đến c a hàng bán 02 chiếc điện thoại.

Ngày 04/10/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Văn Lâm ra Yêu cầu định giá tài sản đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S, màu vàng đồng, bộ nhớ 16GB và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SamSung A30, màu xanh, bộ nhớ 32GB. Bản kết luận định giá tài sản số 139 ngày 12/01/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Văn Lâm, kết luận: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S, màu vàng đồng, bộ nhớ 16GB, trị giá 1.600.000đ và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SamSung A30, màu xanh, bộ nhớ 32GB, trị giá 2.000.000đ.

Ngày 19/10/2021, Cơ quan điều tra ra Quyết định trưng cầu giám định đối với 01 tệp video trong đĩa DVD do anh Tùng giao nộp. Bản kết luận giám định số 7726 ngày 28/10/2021 của Viện khoa học hình sự Bộ Công an, kết luận: Không tìm thấy dấu vết cắt gh p, chỉnh s a nội dung trong file video g i giám định; Hình ảnh người nam giới mặc quần dài màu ghi trắng, mặc áo cộc tay màu đen, đeo khẩu trang màu trắng xuất hiện trong file video g i giám định đã được trích xuất. Chi tiết có trong bản ảnh g i kèm theo.

Ngày 13/10/2021, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Văn Lâm đã trả lại chị M 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S, màu vàng đồng; trả lại chị L 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SamSung A30, màu xanh kèm thẻ sim, thẻ nhớ. Chị M và chị L đã nhận lại tài sản. Chị L không yêu cầu đề nghị, còn chị M yêu cầu T phải bồi thường trả chị M 50.000đ tiền phí làm lại sim.

Đối với anh Tùng có hành vi mua 02 chiếc điện thoại di động của T. Tuy nhiên, anh Tùng không biết đó là tài sản do T trộm cắp mà có nên không đặt ra để x lý. Anh Tùng yêu cầu T phải bồi thường trả anh Tùng số tiền 1.400.000đ.

Đối với người đàn ông lái xe ôm chở T đi bán điện thoại và người tên Vàng A Thư quê ở Hà Giang vay của T 800.000đ. Do không rõ tên, địa chỉ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không có căn cứ để x lý.

Quá trình điều tra, Dương Thanh T thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu ở trên.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số16/2022/HS-ST ngày 18/02/2022, Toà án nhân dân huyện Văn Lâm đã quyết định:

Tuyên bố: Bị cáo Dương Thanh T phạm tội Trộm cắp tài sản. Áp dụng khoản 1 điều 173; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ lụât Hình sự. X phạt Dương Thanh T 09 tháng tù. Thời gian tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành.

Ngoài ra bản án còn quyết định về trách nhiệm dân sự, biện pháp tư pháp, x lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 23/02/2022, bị cáo Dương Thanh T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị cáo Dương Thanh T thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội và đề nghị Hội đồng x t x , xem x t giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị hại chị Nguyễn Thị M và chị Đỗ Thị L đều xác định bị T trộm cắp tài sản là điện thoại di động nhưng đã được nhận lại. Nay cả hai chị đều đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên phát biểu quan điểm: Tòa án cấp sơ thẩm đã x t x và tuyên phạt bị cáo Dương Thanh T 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là phù hợp quy định của pháp luật. Tại cấp phúc thẩm bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là tình tiết mới nên đề nghị Hội đồng x t x giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo từ 02 đến 03 tháng tù so với mức án mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên.

Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên không xem x t.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo Dương Thanh T được làm trong thời hạn do pháp luật quy định là hợp pháp.

. Về tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, đồng thời phù hợp khách quan với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 04/10/2021, tại Công ty Tuấn Long thuộc thôn Hoằng, xã Lạc Đạo, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên, Dương Thanh T đã thực hiện hành vi l n lút trộm cắp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S, màu vàng đồng, trị giá 1.600.000 đồng của chị Đỗ Thị L và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SamSung A30, màu xanh, trị giá 2.000.000 đồng của chị Nguyễn Thị M. T đã mang 02 điện thoại nêu trên đi bán được số tiền 1.400.000 đồng, sau đó thì bị phát hiện.

Bởi hành vi trên, nên Tòa án cấp sơ thẩm x t x bị cáo Dương Thanh T về tội Trộm cắp tài sản, theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

. Xét kháng cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Dương Thanh T, Hội đồng x t x phúc thẩm x t thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ và gây mất trật tự trị an, xã hội tại địa phương. Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo; áp dụng đầy đủ, chính xác tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và x phạt bị cáo Dương Thanh T 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản là phù hợp. Tại cấp phúc thẩm, bị hại là chị Nguyễn Thị M và chị Đỗ Thị L xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là tình tiết giảm nhẹ mới theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Vì vậy có căn cứ để s a bản án sơ thẩm, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo như quan điểm đề nghị của Viện kiểm sát tại phiên tòa.

. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên Hội đồng x t x không xem x t.

. Về án phí: Bị cáo kháng cáo được chấp nhận nên không phải chịu án phí phúc thẩm hình sự.

Vì các lẽ trên;

Căn cứ vào Điều 343; điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Dương Thanh T. S a bản án hình sự sơ thẩm số 16/2022/HS-ST ngày 18/02/2022 của Toà án nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên.

Áp dụng: Khoản 1 điều 173; điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ lụât Hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Dương Thanh T phạm tội Trộm cắp tài sản.

X phạt Dương Thanh T 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.

2. Về án phí: Bị cáo Dương Thanh T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ