vanban.org

Bản án 39/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Trần Thị T ly hôn anh Vũ Khắc C.

Về con chung: Giao con chung là Vũ Khắc Hải N, sinh ngày 24 tháng 6 năm 2007 cho anh Vũ Khắc C trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung, do chị T, anh C không yêu cầu nên Hội đồng xé… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "LHST Trần Thị T - Vũ KHắc C"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Trần Thị T ly hôn anh Vũ Khắc C.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN K
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 39/2022/HNGĐ-ST
Ngày 30-9-2022
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN K, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Minh Thông

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Vũ Văn Lẫy

Bà Hoàng Thị Chính

- Thư ký phiên toà: Bà Mai Thị Thanh Huyền - Thư ký Toà án nhân dân quận K, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận K, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Đô, Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân quận K, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 53/2022/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 7 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 395/2022/QĐXXST- HNGĐ ngày 31 tháng 8 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên toà số 483/2022/QĐST-HNGĐ ngày 15 tháng 9 năm 2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trần Thị T; nơi cư trú: Tổ T 5, phường Q, quận K, thành phố Hải Phòng; vắng mặt tại phiên toà, có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Vũ Khắc C; nơi cư trú: Tổ T 5, phường Q, quận K, thành phố Hải Phòng; vắng mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn là chị Trần Thị T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Vũ Khắc C kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường Q, quận K, thành phố Hải Phòng vào ngày 02 tháng 3 năm 1995. Sau khi kết hôn, chị và anh C về sống chung tại Tổ T 5, phường Q, quận K, thành phố Hải Phòng. Quá trình chung sống, vợ chồng chị thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân chủ yếu là do tính cách hai bên không hợp nhau, vợ chồng bất đồng nhau về quan điểm sống. Đến nay chị xác định tình cảm của chị đối với anh Vũ Khắc C không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã căng thẳng và trầm trọng, không thể đoàn tụ được nữa nên chị đề nghị Toà án nhân dân quận K giải quyết cho chị được ly hôn với anh Vũ Khắc C.

Về con chung: Chị và anh Vũ Khắc C có 02 con chung là Vũ Khắc Tr, sinh ngày 25/11/1995 hiện đã trưởng thành và Vũ Khắc Hải N, sinh ngày 24/6/2007. Khi ly hôn, chị nhận nuôi con chung là Vũ Khắc Hải N đến khi con chung đủ 18 tuổi, nếu anh C nhận nuôi con chung, chị cũng đồng ý. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và công nợ: Chị không yêu cầu Toà án giải quyết về tài sản và công nợ của vợ chồng.

Anh Vũ Khắc C vắng mặt tại phiên tòa, tuy nhiên tại Bản tự khai, Biên bản ghi lời khai anh C trình bày như sau: Anh và chị Trần Thị T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường Q, quận K, thành phố Hải Phòng vào ngày 02 tháng 3 năm 1995. Sau khi kết hôn, vợ chồng anh về sống chung tại Tổ T 5, phường Q, quận K, thành phố Hải Phòng. Quá trình chung sống, vợ chồng anh chị có nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính cách hai bên không hợp nhau, vợ chồng bất đồng về quan điểm sống. Chị T thường đi làm về muộn, không có lý do, anh không còn tin tưởng về tình cảm đối với chị T. Mặt khác, do việc làm ăn thua lỗ nên anh có mắng, chửi chị T. Do mâu thuẫn vợ chồng, chị T đã về nhà bố mẹ đẻ sống, vợ chồng đã ly thân nhau. Anh đã nhiều lần động viên, khuyên giải để đoàn tụ vợ chồng nhưng chị T không đồng ý. Hiện nay chị T có đơn xin ly hôn anh tại Tòa án, anh vẫn còn tình cảm với chị T nên anh không đồng ý ly hôn. Về con chung: Anh và chị Trần Thị T có 02 con chung là Vũ Khắc Tr, sinh ngày 25/11/1995 hiện đã trưởng thành và Vũ Khắc Hải N, sinh ngày 24/6/2007. Nếu phải ly hôn, anh nhận nuôi con chung là Vũ Khắc Hải N đến khi con chung đủ 18 tuổi. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung và tài sản chung anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ý kiến phát biểu của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận K, thành phố Hải Phòng: Quá trình tiến hành tố tụng của Tòa án từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án: Nguyên đơn chấp hành đầy đủ các quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn chưa chấp hành đầy đủ các quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự; Thẩm phán, Thư ký phiên tòa, Hội đồng xét xử về cơ bản đã thực hiện đúng quy định của pháp luật. Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, giải quyết cho chị Trần Thị T được ly hôn với anh Vũ Khắc C. Về con chung: Giao con chung là Vũ Khắc Hải N cho anh Vũ Khắc C trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung và về tài sản chung do chị T, anh C không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết. Về án phí, buộc chị T phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền thụ lý, giải quyết vụ án: Anh Vũ Khắc C là bị đơn, hiện cư trú tại Tổ T 5, phường Q, quận K, thành phố Hải Phòng, vì vậy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận K, thành phố Hải Phòng theo khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc xét xử vắng mặt đương sự: Tòa án nhân dân quận K đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng anh Vũ Khắc C không thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình, vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt anh Vũ Khắc C. Chị Trần Thị T đã được Tòa án triệu tập lần 2 nhưng chị Hương vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị Trần Thị T.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị T và anh Vũ Khắc C kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường Q, quận K, thành phố Hải Phòng ngày 02 tháng 3 năm 1995. Đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ. Căn cứ vào lời khai của chị Trần Thị T, lời khai của anh Vũ Khắc Phùng Thị Hương C và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, có đủ cơ sở xác định chị Trần Thị T và anh Vũ Khắc C trong quá trình chung sống thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, vợ chồng không còn quan tâm đến nhau, không còn tình cảm với nhau. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, lối sống, tính cách không hợp nhau. Như vậy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Trần Thị T và anh Vũ Khắc C đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, yêu cầu xin ly hôn của chị Trần Thị T là phù hợp pháp luật và thực tế vụ kiện, được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung: Chị Trần Thị T và anh Vũ Khắc C có 02 con chung là Vũ Khắc Tr, sinh ngày 25/11/1995 hiện đã trưởng thành và Vũ Khắc Hải N, sinh ngày 24/6/2007. Tài liệu xác minh và lời khai của cháu Hải N thể hiện: Cháu Vũ Khắc Hải N đang sống chung cùng với anh Vũ Khắc C, do vậy Hội đồng xét xử quyết định giao con chung là Vũ Khắc Hải N cho anh Vũ Khắc C chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi là phù hợp với nguyện vọng của cháu Hải N. Đây cũng là quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận K tại phiên tòa. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung, do chị T, anh C không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về tài sản chung: Chị Trần Thị T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết về tài sản.

Về án phí: Chị Trần Thị T phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự; căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Trần Thị T ly hôn anh Vũ Khắc C.

2. Về con chung: Giao con chung là Vũ Khắc Hải N, sinh ngày 24 tháng 6 năm 2007 cho anh Vũ Khắc C trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung, do chị T, anh C không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3. Về tài sản chung và công nợ: Chị Trần Thị T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

4. Về án phí: Chị Trần Thị T phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003680 ngày 26 tháng 7 năm 2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận K, thành phố Hải Phòng, chị Trần Thị T đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Chị Trần Thị T và anh Vũ Khắc C có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ