vanban.org

Bản án 39/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Phan Tấn T. Anh Phan Tấn T được ly hôn chị Nguyễn Thị Kim H.

Về con chung: Giao cho anh Phan Tấn T là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu Phan Thị Bích T, sinh ngày 12/02/2015. Chị H không phải cấp dưỡng nuôi con chung do anh T không yêu cầu. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trự… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Phan Tấn T. Anh Phan Tấn T được ly hôn chị Nguyễn Thị Kim H.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NINH SƠN
TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 39/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 15 - 8 - 2022.
V/v: Tranh chấp “Ly hôn, nuôi con khi ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH SƠN, TỈNH NINH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Khải Hoàng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Thanh.

2. Ông Nguyễn Ngọc Sơn.

- Thư ký phiên tòa: Ông Võ Minh Trường - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tú Quỳnh - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số: 37/2022/TLST-HNGĐ ngày 25/3/2022 về tranh chấp: “Ly hôn, nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 27/6/2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 30/2022/QĐST-HNGĐ ngày 22/7/2022, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Phan Tấn T, sinh năm: 1983 (Có mặt).

Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Kim H, sinh năm: 1990 (Vắng mặt).

Cùng địa chỉ: Thôn P, xã M, huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 09 tháng 3 năm 2022 và trong quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn là anh Phan Tấn T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Nguyễn Thị Kim H tiến đến hôn nhân là hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã M, huyện Ninh Sơn theo Giấy chứng nhận kết hôn số: 03 ngày 12/01/2015. Trong thời gian chung sống, hai người thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do tính tình không hợp. Hiện nay, hai người không còn chung sống với nhau, không ai quan tâm đến ai nên hạnh phúc gia đình không có. Vì vậy, anh yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị H.

Về con chung: Vợ chồng anh có 01 con chung tên là Phan Thị Bích T, sinh ngày 12/02/2015. Hiện nay cháu T đang ở với ông bà Ngoại là ông Nguyễn S và bà Trương Thị Kim C tại thôn Tân M, xã M, huyện Ninh Sơn. Nếu ly hôn, anh xin được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu T và không yêu cầu chị H phải cấp dưỡng nuôi con chung. Hiện nay, anh làm nông thu nhập ổn định khoảng 05 triệu đồng/tháng.

Về tài sản và nợ chung: Anh và chị H tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.

Bị đơn là chị Nguyễn Thị Kim H: Quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay. Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng như Thông báo thụ lý vụ án, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ ... cho chị H nhưng chị vẫn không hợp tác. Tòa án đã tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa để chị tham gia phiên tòa nhưng chị đều vắng mặt không có lý do. Qua xác minh, chị H thường xuyên vắng mặt tại địa phương, chị biết việc Tòa án nhiều lần tống đạt văn bản tố tụng để chị đến Tòa án tham gia giải quyết việc xin ly hôn và tranh chấp nuôi con của anh T nhưng chị cố tình vắng mặt, không hợp tác.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, cụ thể như sau:

Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định pháp luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án cho đến khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án.

Về việc chấp hành pháp luật tố tụng của đương sự: Nguyên đơn là anh Phan Tấn T chấp hành đúng quy định của pháp luật. Bị đơn là chị Nguyễn Thị Kim H mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định của pháp luật.

Về quan điểm giải quyết nội dung vụ án: Đây là quan hệ tranh chấp ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Tình trạng hôn nhân giữa anh T và chị H đã mâu thuẫn trầm trọng. Yêu cầu xin ly hôn của anh T là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình để chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh T và giao cháu T cho anh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị H không phải cấp dưỡng nuôi con chung do anh T không yêu cầu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Lời trình bày và kết quả tranh tụng của đương sự. Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Nguyên đơn là anh Phan Tấn T có đơn đề nghị Tòa án nhân dân huyện Ninh Sơn giải quyết việc hôn nhân, tranh chấp nuôi con chung. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật TTDS 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận. Bị đơn là chị Nguyễn Thị Kim H đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là chị Nguyễn Thị Kim H theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung tranh chấp:

Về quan hệ hôn nhân: Thấy rằng, quan hệ hôn nhân giữa anh T và chị H là hôn nhân hợp pháp. Tuy nhiên, hiện nay anh T và chị H mạnh ai nấy sống, không ai quan tâm đến ai. Theo biên bản xác minh ngày 17/6/2022 thì tình trạng hôn nhân giữa anh T và chị H đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Việc anh T yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với chị H là có cơ sở, phù hợp với khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình và phù hợp với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, nên yêu cầu ly hôn của anh Phan Tấn T được Hội đồng xét xử sơ thẩm chấp nhận.

Về con chung: Anh T có nguyện vọng là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Phan Thị Bích T, sinh ngày 12/02/2015. Anh không yêu cầu chị H phải cấp dưỡng nuôi con chung. Hội đồng xét xử thấy rằng, theo biên bản xác minh ngày 17/6/2022 thì hiện nay cháu T đang ở với ông bà Ngoại của cháu. Anh T có thu nhập ổn định nên bảo đảm được cuộc sống và sự phát triển bình thường của cháu T. Nguyện vọng của anh T phù hợp với nguyện vọng của cháu T được quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình, đồng thời phù hợp với quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của anh T, giao cho anh T là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu Phan Thị Bích T, sinh ngày 12/02/2015. Chị H không phải cấp dưỡng nuôi con chung do anh T không yêu cầu.

Về tài sản chung, nợ chung: Anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Anh Phan Tấn T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Phan Tấn T. Anh Phan Tấn T được ly hôn chị Nguyễn Thị Kim H.

2. Về con chung: Giao cho anh Phan Tấn T là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu Phan Thị Bích T, sinh ngày 12/02/2015. Chị H không phải cấp dưỡng nuôi con chung do anh T không yêu cầu.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

3. Về án phí: Anh Phan Tấn T phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được khấu trừ 300.000đ tạm ứng án phí anh T đã nộp theo biên lai thu tạm ứng phí, lệ phí tòa án số 0005831 ngày 23/3/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận.

Án xử công khai sơ thẩm, anh Phan Tấn T có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Chị Nguyễn Thị Kim H vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ