- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "“Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”"
- Tòa quyết gì? [1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hồ Thị H.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG PẮC TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 39/2022/HNGĐ-ST Ngày 22 - 8- 2022 V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG PẮC, TỈNH ĐẮK LẮK
- TH1nh phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Thành Tâm.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hải, Bà Trịnh Thị Oanh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nông Thị Lường – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Y Dim Kbuôr – Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 8 năm 2022, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Krông Pắc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 274/2022/TLST- HNGĐ, ngày 01 tháng 6 năm 2022 về việc:“Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2022/QĐXXST-HNGĐ, ngày 03 tháng 8 năm 2022, giữa:
- Nguyên đơn: Chị Hồ Thị H, sinh năm 1983 (Có mặt).
- Bị đơn: Anh Nguyễn Xuân H1, sinh năm 1983 (Có mặt).
Cùng địa chỉ tại: Tổ dân phố A, thị trấn P, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.
Chỗ ở hiện nay: Số 11 Nguyễn Lương B, thị trấn P, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, quá trình tham gia tố tụng và tại phiên toà nguyên đơn chị Hồ Thị H trình bày:
Chị với anh Nguyễn Xuân H1 chung sống với nhau trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại UBND xã Ea Kly, huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk vào ngày 14/10/2013.
Hai anh chị chung sống với nhau hạnh phúc được khoảng một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn dẫn đến việc vợ chồng chị thường xuyên bất đồng, cãi cọ lẫn nhau trong cuộc sống hàng ngày. Nguyên nhân là do anh H1 thường xuyên uống rượu say xỉn, về chửi bới, đánh đập, nhục mạ, vợ con và đuổi vợ con ra khỏi nhà. Hơn nữa, chồng chị còn quan hệ trai gái, ngoài luồng với nhiều người, bắt chị phải sinh con trai trong khi cả hai đã có 02 đứa con và trong điều kiện kinh tế gia đình khó khăn. Sự việc xảy ra mặc dù chị đã nhiều lần cố gắng hòa giải làm lành với nhau cho cuộc sống hôn nhân nhưng bản thân chồng chị là anh Nguyễn Xuân H1 vẫn không thay đổi, từ đó khiến cho đời sống vợ chồng không hòa hợp, cuộc sống hôn nhân không thể tiếp tục kéo dài. Chị thấy hiện tình cảm vợ chồng không còn, nếu tiếp tục chung sống cũng không hạnh phúc nên chị làm đơn này đề nghị Tòa án giải quyết được ly hôn với chồng chị là anh Nguyễn Xuân H1.
Về con chung: Quá trình chung sống với nhau vợ chồng anh chị có 01 con chung là cháu Nguyễn Hồ Bảo Trân, sinh ngày 26/4/2015. Khi ly hôn, chị H có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Hồ Bảo Trân cho đến khi cháu đủ 18 tuổi và yêu cầu anh H1 pH cấp dưỡng nuôi con chung với mức 2.500.000 đồng/tháng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị tự thoả thuận không yêu cầu Tòa án pH giải quyết.
* Quá trình tham gia tố tụng và tại phiên toà bị đơn anh Nguyễn Xuân H1 trình bày:
Anh Nguyễn Xuân H1 thừa nhận thời điểm kết hôn, con chung, tài sản chung và công nợ chung đúng như nguyên đơn đã trình bày. Quá trình giải quyết vụ án cũng như qua nhiều lần làm việc và hoà giải tại Toà thì bản thân anh đã suy nghĩ nhiều lần về việc ly hôn với vợ anh là cô Hồ Thị H nhưng anh vẫn muốn níu kéo tình cảm của hai vợ chồng. Muốn con cái lớn lên mà vẫn có đủ cha và mẹ nên anh không đồng ý ly hôn với chị Hồ Thị H. Tuy nhiên, vợ anh là cô H vẫn cương quyết, nằng nặc đòi ly hôn thì anh đồng ý ly hôn với vợ là cô Hồ Thị H để giải thoát cho nhau.
Về con chung: Quá trình chung sống với nhau vợ chồng anh chị có 01 con chung là cháu Nguyễn Hồ Bảo Trân, sinh ngày 26/4/2015. Khi ly hôn, cô H có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Hồ Bảo Trân cho đến khi cháu đủ 18 tuổi và yêu cầu anh phải cấp dưỡng nuôi con chung với mức 2.500.000 đồng/tháng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi.
Sau khi xem xét nguyện vọng về con chung của cô Hồ Thị H thì anh không đồng ý với ý kiến, yêu cầu và nguyện vọng khác của cô Hồ Thị H về con chung. Anh cũng có nguyện vọng muốn được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Hồ Bảo Trân cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Lý do anh muốn được trực tiếp nuôi con là vì cô H phải thường xuyên đi làm MC cho các chương trình cũng như phải đi dạy liên tục trên trường nên có ít thời gian để chăm sóc giáo dục nuôi dưỡng con cái.
Về cấp dưỡng nuôi con chung thì anh không yêu cầu cô H phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung và nợ chung: Anh đồng ý hai vợ chồng tự thoả thuận không yêu cầu Tòa án phải giải quyết về vấn đề này.
Tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn chị Hồ Thị H vẫn giữ nguyên quan điểm xin được ly hôn với anh Nguyễn Xuân H1, xin nuôi cháu Nguyễn Hồ Bảo Trân. Tuy nhiên, chị tự nguyện xin rút một phần yêu cầu khởi kiện về cấp dưỡng nuôi con chung, chị chỉ yêu cầu anh H1 phải cấp dưỡng nuôi con chung với mức 1.500.000 đồng/tháng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Tài sản chung, nợ chung tự thoả thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Nguyễn Xuân H1 giữ nguyên quan điểm đồng ý ly hôn với chị Hồ Thị H. Tuy nhiên, anh H1 vẫn có nguyện vọng muốn nuôi cháu Nguyễn Hồ Bảo Trân, không yêu cầu chị H cấp dưỡng tiền nuôi con. Tài sản chung, nợ chung tự thoả thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Krông Pắc phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Hội đồng xét xử (HĐXX), nguyên đơn và bị đơn đã thực hiện đúng và đầy đủ các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hồ Thị H.
Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 51, 55, 57, 58, 81, 82, 83, 110 và Điều 117 Luật Hôn nhân và gia đình. Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Hồ Thị H và anh Nguyễn Xuân H1.
- Về con chung: Giao con chung là cháu Nguyễn Hồ Bảo Trân, sinh ngày 26/4/2015 cho chị Hồ Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến lúc cháu Trân đủ 18 tuổi.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Nguyễn Xuân H1 phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Trân với số tiền 1.500.000 đồng/ tháng cho đến khi cháu Trân đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung, nợ chung các đương sự không yêu cầu, nên đề nghị HĐXX không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu đã có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng:
Căn cứ đơn khởi kiện của chị Hồ Thị H, Toà án nhân dân huyện Krông Pắc xác định quan hệ pháp luật đang tranh chấp là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chị Hồ Thị H khởi kiện xin ly hôn anh Nguyễn Xuân H1 có địa chỉ tại Tổ dân phố A, thị trấn P, huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk. Căn cứ điểm a, khoản 1 Điều 35; điểm a, khoản 1 Điều 39 của BLTTDS, Toà án nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Hồ Thị H và anh Nguyễn Xuân H1 có đăng ký kết hôn tại UBND xã Ea Kly, huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk vào ngày 14/10/2013 nên quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh H1 là hợp pháp được pháp luật công nhận.
Tuy nhiên sau khi cưới chị Hồ Thị H và anh Nguyễn Xuân H1 sống với nhau không hạnh phúc. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung. Do vậy, chị H và anh H1 thường xuyên cãi nhau. Sự việc trên xảy ra đã một thời gian dài nhưng chị H và anh H1 không tự giàn xếp được. Do vậy, mâu thuẫn của anh chị ngày càng trầm trọng. Quá trình giải quyết vụ án cả chị H và anh H1 đều thừa nhận hiện tại vợ chồng không còn yêu thương nhau nữa, mâu thuẫn vợ chồng đã thật sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt.
Tại phiên tòa cả anh Nguyễn Xuân H1 và chị Hồ Thị H đều có nguyện vọng xin được thuận tình ly hôn. Xét thấy, việc chị H và anh H1 xin được thuận tình ly hôn là hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc và không trái quy định của pháp luật. Do vậy, HĐXX áp dụng Điều 55 Luật hôn nhân gia đình ghi nhận việc chị Hồ Thị H và anh Nguyễn Xuân H1 thuận tình ly hôn là hoàn toàn phù hợp.
[2.1] Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng chị Hồ Thị H và anh Nguyễn Xuân H1 có một con chung là cháu Nguyễn Hồ Bảo Trân, sinh ngày 26/4/2015.
Trong quá trình giải quyết và tại phiên toà vụ án chị H có nguyện vọng trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu Trân đủ 18 tuổi và yêu cầu anh H1 phải cấp dưỡng nuôi con chung với mức 1.500.000 đồng/tháng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi.
Tuy nhiên, anh Nguyễn Xuân H1 không đồng ý với nguyện vọng của chị H về con chung, anh Nghĩa cũng có nguyện vọng muốn được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Trân cho đến khi cháu đủ 18 tuổi và không yêu cầu chị H1 phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Biên bản xác minh tại chính quyền địa phương vào ngày 02/8/2022 và căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được Tòa án thu thập, cho thấy: “Anh H1 đang công tác tại Ban tham mưu Ban chỉ huy quân sự huyện Krông Pắc với thu nhập ổn định, còn chị H đang làm giáo viên tại Trường THCS Ea Hiu với mức thu nhập là 10.673.676 đồng. Hiện nay cháu Trân đang ở với bố và mẹ tại số 11 Nguyễn Lương B.”.
Hội đồng xét xử thấy rằng: Cháu Nguyễn Hồ Bảo Trân đã trên 07 tuổi. Do vậy, Toà án đã tiến hành lấy lời khai của cháu để biết ý kiến và nguyện vọng của cháu muốn được ở với ai thì tại Biên bản lấy lời khai thể hiện cháu muốn được ở với mẹ, vì khi được ở mẹ thì cháu cảm thấy được quan tâm, chăm sóc, nuôi dưỡng tốt hơn so với bố. Bố hay phải đi trực ở cơ quan.
Mặc dù chị H và anh H1 đều có nguyện vọng được nhận nuôi con chung và đều có công ăn việc làm, có thu nhập đủ điều kiện nuôi con. Tuy nhiên, hiện nay anh H1 đang công tác tại Ban tham mưu Ban chỉ huy quân sự huyện Krông Pắc nên không có nhiều thời gian và điều kiện để trực tiếp chăm sóc, giáo dục con chung so với chị H đang làm giáo viên tại Trường THCS Ea Hiu Hơn nữa, cháu Nguyễn Hồ Bảo Trân là con gái vì thế việc giao cho mẹ ruột là chị H trực tiếp chăm sóc bé gái sẽ thuận lợi hơn trong quá trình phát triển tâm sinh lý của cháu sau này.
Tại khoản 2 Điều 81 luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con ”.
Chính vì vậy, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con, nghĩa vụ của cha mẹ đối với con chưa thanh niên. Do đó, cần giao cháu Nguyễn Hồ Bảo Trân cho chị Hồ Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp với pháp luật.
- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, nguyên đơn chị H tự nguyện rút một phần yêu cầu cấp dưỡng còn 1.500.000 đồng, cụ thể: chị H chỉ yêu cầu anh H1 phải cấp dưỡng nuôi con chung với mức 1.500.000 đồng/tháng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Mặc dù, anh H1 không đồng ý với mức cấp dưỡng nuôi con. Tuy nhiên, HĐXX xét thấy mức cấp dưỡng chị H yêu cầu là phù hợp cho việc nuôi dưỡng, học hành, nhu cầu thiết yếu của con chung. Do đó, căn cứ Điều 116 Luật hôn nhân và gia đình, HĐXX chấp nhận yêu cầu của chị H về mức cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự tự thoả thuận không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn chị Hồ Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm và bị đơn anh Nguyễn Xuân H1 phải chịu án phí của người có nghĩa vụ cấp dưỡng là 300.000 đồng.
Xét thấy quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pắc là có căn cứ nên HĐXX chấp nhận toàn bộ ý kiến của Viện kiểm sát.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 235; Điều 266; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Căn cứ vào các Điều 51, 55, 58, 81, 82, 83, 110, 116 và Điều 117 Luật Hôn nhân và gia đình;
- Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
[1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hồ Thị H.
- Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Hồ Thị H và anh Nguyễn Xuân H1.
- Về nuôi con chung: Giao con chung cháu Nguyễn Hồ Bảo Trân, sinh ngày 26/4/2015 cho chị Hồ Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Anh Nguyễn Xuân H1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Sau ly hôn người không trực tiếp nuôi con được quyền đi lại thăm nom con chung không ai được quyền ngăn cản. Người không trực tiếp nuôi con chung nếu lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng con chung thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Vì lợi ích của con chung, cha, mẹ hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Nguyễn Xuân H1 phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cháu Nguyễn Hồ Bảo Trân, sinh ngày 26/4/2015 với mức 1.500.000 đồng/ tháng cho đến khi cháu Trân đủ 18 tuổi.
Thời gian cấp dưỡng tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
- Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
[2] Về án phí: Chị Hồ Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số AA/2021/0016223 ngày 31/5/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk. Chị Hồ Thị H đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.Anh Nguyễn Xuân H1 phải chịu án phí của người có nghĩa vụ cấp dưỡng là 300.000 đồng.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự .
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND huyện Krông Pắc; - CCTHADS huyện Krông Pắc; - Người tham gia tố tụng; - UBND xã Ea Kly; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (ĐÃ KÝ) Nguyễn Thành Tâm |