vanban.org

Bản án 39/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Nguyễn Thị Yến P được ly hôn với anh Võ Minh T

Về con chung: Giao cháu Võ Nguyễn Huỳnh N, sinh ngày 27/10/2017 cho anh Võ Minh T tiếp tục nuôi dưỡng. Chị Nguyễn Thị Yến P không phải cấp dưỡng nuôi cháu N, do anh T không yêu cầu. Chị Nguyễn Thị Yến P có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc giáo cháu Như mà không ai được cản trở. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "PHI- TUAN"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Nguyễn Thị Yến P được ly hôn với anh Võ Minh T
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 39/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 10-3-2022
V/v tranh chấp Ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán- chủ tọa Pên tòa: Ông Đặng Nhật Trường

- Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Võ Văn Cường

2. Bà Lê Thị Lan

- Thư ký Pên Tòa: Ông Cao Trần Khắc Huy - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.

Ngày 10 tháng 3 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cái Bè xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 468/2021/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 11 năm 2021 về việc Tranh chấp Ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 01 năm 2022 và Quyết định hoãn Pên tòa số 19/2022/QĐST-HNGĐ ngày 17 tháng 02 năm 2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Yến P, sinh năm 1988.

Địa chỉ: Ấp H, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang

- Bị đơn: Anh Võ Minh T, sinh năm 1990.

Địa chỉ: Ấp H, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

Chị P có đơn xin xét xử vắng mặt, anh T vắng mặt tại Pên tòa

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và tờ tự khai cùng ngày 09/11/2021, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Yến P trình bày: Do quen biết nên chị và anh T xác lập quan hệ vợ chồng vào năm 2016, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang ngày 07/4/2020. Vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn và ly thân từ tháng 6 năm 2021 cho đến nay. Nguyên nhân, do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, thường xuyên ăn nhậu và hay đánh đập chị nên không còn hạnh phúc, chị nhiều lần động viên để hàn gắn nhưng không có kết quả. Do mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, vợ chồng không thể tiếp tục sống chung nên chị yêu cầu được ly hôn với anh T.

Về con chung: Vợ chồng có một con chung tên Võ Nguyễn Huỳnh N, sinh ngày 27/10/2017. Ly hôn chị P đồng ý giao cháu Như cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng, chị P không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết

Bị đơn anh Võ Minh T đã được Tòa án thông báo về việc thụ lý vụ án và cũng được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham dự Pên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, tham gia Pên tòa nhưng anh T vẫn vắng mặt không lý do và cũng không có văn bản ý kiến trả lời.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại Pên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Đối với nguyên đơn chị Nguyễn Thị Yến P có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo quy định tại Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Đối với bị đơn anh Võ Minh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn cố tình vắng mặt và cũng không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt đồng thời bị đơn không có yêu cầu phản tố cho nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Yến P và anh Võ Minh T xác lập quan hệ vợ chồng vào năm 2016. Chị P xác định vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn do cuộc sống vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, anh T thường xuyên ăn nhậu và hay đánh đập chị nên không còn hạnh phúc. Vì vậy anh và chị đã ly thân nhau tháng 6 năm 2021 cho đến nay. Nay chị P xác định mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, vợ chồng không thế tiếp tục sống chung nên chị yêu cầu xin ly hôn với anh T. Trong thời gian ly thân anh T cũng không có biện pháp cụ thể nào để hàn gắn quan hệ vợ chồng và cũng không có ý kiến gì để phản đối yêu cầu ly hôn của chị P. Hơn nữa, chị P vẫn cương quyết xin ly hôn với anh T.

Xét thấy tình trạng mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, yêu cầu xin ly hôn của chị P có căn cứ, phù hợp quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

[3] Về con chung: Quá trình chung sống, chị P với anh T có một con chung Võ Nguyễn Huỳnh N, sinh ngày 27/10/2017. Chị P đồng ý giao cháu N cho anh T nuôi dưỡng. Mặc khác hiện tại cháu N cũng đang ở với anh T. Xuất phát từ lợi ích mọi mặt của cháu N, Hội đồng xét xử giao cháu N cho anh T nuôi dưỡng theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình.

Xét, chị P không cấp dưỡng nuôi cháu Như, anh T cũng không có ý kiến gì về phần cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử không giải quyết. Nếu sau này có yêu cầu thì khởi kiện bằng vụ án khác.

[4] Về tài sản chung: Chị P xác định không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[5] Về nợ chung: Chị P xác định không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[6] Về án phí: Chị Nguyễn Thị Yến P phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 56, 57, 81, 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 2 điều 227 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Nguyễn Thị Yến P được ly hôn với anh Võ Minh T

2. Về con chung: Giao cháu Võ Nguyễn Huỳnh N, sinh ngày 27/10/2017 cho anh Võ Minh T tiếp tục nuôi dưỡng. Chị Nguyễn Thị Yến P không phải cấp dưỡng nuôi cháu N, do anh T không yêu cầu.

Chị Nguyễn Thị Yến P có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc giáo cháu Như mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Yến P phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm. Chị P đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo hai biên lai thu số 0000954 ngày 22/11/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang. Vậy chị P đã thi hành xong án phí.

4. Về quyền kháng cáo: Chị P và anh T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử theo trình tự thủ tục phúc thẩm.

Cỡ chữ