- Tranh chấp gì? Tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân — án hôn nhân và gia đình — "V/v Ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Hà Thị Tuyến.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH SƠN TỈNH PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 39/2022/HNGĐ-ST Ngày 22/9/2022 “V/v Ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH SƠN - TỈNH PHÚ THỌ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích Thủy.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Gia Thắng
2. Ông Bùi Đức Quảng
Thư ký phiên tòa: Ông Lê Mạnh Cường - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên toà: Ông Đinh Trọng Nho - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 9 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 139/2022/TLST - HNGĐ ngày 21 tháng 6 năm 2022 về việc Ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2022/QĐXXST - HNGĐ ngày 05 tháng 8 năm 2022; Quyết định hoãn phiên tòa số: 38/2022/QĐST - HNGĐ ngày 26 tháng 8 năm 2022, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Hà Thị Tuyến, sinh năm 1990.
NĐKHKTT: Khu Lau, xã Yên Sơn, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ,
Nơi cư trú: Xóm Mật- xã Văn Miếu- huyện Thanh Sơn- tỉnh Phú Thọ.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Nguyên đơn: Ông Bùi Đức Dũng- trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Phú Thọ ( có mặt)
Nơi cư trú: Xóm Mật, xã Văn Miếu, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ
Bị đơn: Anh Nguyễn Xuân Huyến, sinh năm 1988.
Địa chỉ: Khu Lau, xã Yên Sơn, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ.
(Chị Tuyến có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh Huyến vắng mặt không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 21/6/2022 và quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn chị Hà Thị Tuyến trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Hà Thị Tuyến tự nguyện kết hôn cùng anh Nguyễn Xuân Huyến năm 2008, có làm thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND xã Văn Miếu. Cưới xong vợ chồng chung sống cùng bố mẹ chồng thì vợ chồng được mấy tháng ra ở riêng trên đất của bố mẹ chồng. Vợ chồng sống hòa thuận hạnh phúc được 12 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh Huyến ghen tuông vô cớ nên đánh đập chị nhiều lần, vì con mà chị cố chịu đưng mong anh Huyến hồi tâm sửa sai, nhưng không có kết quả. Tháng 6/2020, anh Huyến lại đánh vợ, chị lên báo cáo chính quyền nhưng khu, xã không giải quyết. Để an toàn cho bản thân, chị Huyến phải tự về nhà bố mẹ để tại xã Văn Miếu, huyện Thanh Sơn ở và vợ chồng cũng sống ly thân luôn từ đó cho đến nay, không quan tâm đến cuộc sống của nhau nữa. Xác định không thể tiếp tục duy trì mối quan hệ hôn nhân này nữa, chị Tuyến đề nghị được ly hôn anh Huyến để giải phóng cho nhau.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung: Cháu Nguyễn Thị Khánh Ly- SN 01/11/2009 và Nguyễn Thành Lương- SN 28/6/2013. Hiện nay các cháu đang ở cùng anh Huyến. Ly hôn chị có nguyện vọng được nuôi dưỡng cháu Nguyễn khánh Ly, giao cháu Lương cho anh Huyến nuôi. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản, công sức: Theo chị Huyến, vợ chồng chị có tài sản chung gồm: 01 nhà cấp , xây năm 2014, xây dựng trên đất bố mẹ chồng.
Về công nợ: Vợ chồng nợ ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam- Phòng giao dịch huyến Thanh Sơn số tiền 25.000.000đ, chưa đến hạn trả nợ.
Ly hôn chị Huyến không yêu cầu giải quyết về tài sản và công nợ.
*Bị đơn anh Nguyễn Xuân Huyến đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo qui định của pháp luật nhưng anh Huyến không đến Tòa án để giải quyết vụ việc, Tòa án phải tiến hành thu thập chứng cứ tại nơi anh Huyến cư trú.
Tại biên bản xác minh ngày 22/7/2022, ông trưởng khu hành chính trình bày: Chị Hà Thị Tuyến và anh Nguyễn Xuân Huyến có hộ khẩu thường trú tại khu Lau, xã Yên Sơn, kết hôn năm 2008 tại UBND xã Văn Miếu, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ. Cuộc sống vợ chồng ban đầu hòa thuận, hạnh phúc, về sau phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng ghen tuông vô cớ. Anh Huyến thường xuyên đánh đập, chửi bới chị Tuyến, khu hành chính đã can thiệp, động viên khuyên bảo nhiều lần lần nhưng không có kết quả. Mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, dẫn đến đã sống ly thân từ năm 2020 đến nay. Hiện tại anh Huyến đi làm ăn xa, thỉnh thoảng về nhà, các con gửi bố mẹ đẻ anh Huyến chăm sóc. Thay mặt khu hành chính, đề nghị Tòa án giải quyết theo qui dịnh của pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích cho các bên đương sự.
Quan điểm Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Nguyên đơn: Căn cứ các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ, được xem xét công khai tại phiên tòa, đủ căn cứ chứng minh: Anh Nguyễn Xuân Huyến thường xuyên có hành vi bạo lực với chị Tuyến khiến mâu thuẫn vợ chồng ngày trầm trọng, chị Tuyến phải tự bỏ về nhà bố mẹ đẻ sinh sống để giải thoát khỏi cảnh bạo lực gia đình. Vợ chồng chị Tuyến và anh Huyến đã ly thân từ năm 2020 đến nay, không quan tâm gì đến cuộc sống của nhau. Xét thấy cuộc hôn nhân giữa chị Hà Thị Tuyến và anh Nguyễn Xuân Huyến thực tế đã không còn tồn tại từ lâu, mâu thuẫn vợ chồng đã trở nên trầm trọng, không có khả năng hàn gắn. Chị Tuyến xác định không còn tình cảm với anh Huyến nên đề nghị HĐXX xử cho chị Hà Thị Tuyến được ly hôn anh Nguyễn Xuân Huyến theo qui định tại Điều 56- Luật hôn nhân và gia đình. Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Thị Khánh Ly- SN 01/11/2009 và Nguyễn Thành Lương- SN 28/6/2013, hiện nay các cháu đang ở cùng anh Huyến. Ly hôn chị Tuyến có nguyện vọng được nuôi dưỡng cháu Nguyễn khánh Ly là chính đáng nên ddrrf nghị HĐXX: Giao cho chị Tuyến trực tiếp nuôi cháu Khánh Ly; Giao cho anh Huyến trực tuyến nuôi cháu Lương cho anh Huyến nuôi, không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản, công nợ chung: Nguyên đơn không yêu cầu giải quyết.
* Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát:
Về tố tụng: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án Thẩm phán đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về lập hồ sơ và thu thập chứng cứ. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng quy định của pháp luật, không có vi phạm gì. Các đương sự: Nguyên đơn đã chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo đúng quy định Điều 70-71 của Bộ luật tố tụng dân sự; Bị đơn không chấp hành đúng quy định tại Điều 70-72 của Bộ luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là đúng theo quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83- Luật hôn nhân và gia đình, giải quyết cho chị Hà Thị Tuyến được ly hôn anh Nguyễn Xuân Huyến. Về con chung : Giao Cháu Nguyễn Thị Khánh Ly- SN 01/11/2009, cho chị Tuyến trực tiếp nuôi dưỡng; Giao cháu Nguyễn Thành Lương- SN 28/6/2013 cho anh Huyến trực tiếp nuôi dưỡng kể từ tháng 9/2022 cho đến khi thành niên,tự lực được. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản, công nợ chung: Chị Tuyến không yêu cầu giải quyết.
Về án phí: Chị Tuyến phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn- chị Hà Thị Tuyến và anh Nguyễn Xuân Huyến đều DKHKTT tại xã Yên Sơn, huyện Thanh Sơn, cả hai hiện đang cư trú tại huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ. Căn cứ điểm a, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39- Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn thụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền.
Xét về sự vắng mặt của các đương sự: Ngày 08/8/2022, chị Hà Thị Tuyến nộp đơn đề nghị xét xử vắng mặt tại Tòa án. Anh Nguyễn Xuân Huyến được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 1+3 Điều 228; Điều 238- Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
. Nội dung vụ án:
2.1. Về quan hệ hôn nhân: Quan điểm ủa nf]ời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho chị Tuyến và phát biểu về giải quyết nội dung vụ án của Kiểm Sát Viên tại phiên tòa là có căn cứ theo qui định tại khoản 1 Điều 56- Luật hôn nhân và gia đình bởi lẽ: Quan hệ hôn nhân của chị Hà Thị Tuyến và anh Nguyễn Xuân Huyến là hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Cả hai đã có thời gian dài chung sống hòa thuận, hạnh phúc vaf đã có 02 con chung. Nhưng cả hai bên đều không biết xây dựng mối quan hệ hôn nhân bền vững hạnh phúc, khiến cuộc hôn nhân đi vào bế tắc, đổ vỡ.
2.2. Về mâu thuẫn vợ chồng: Căn cứ lời trình bày của chị Tuyến cùng các tài liệu chứng cứ do Tòa án tiến hành thu thập đã chứng minh: Mâu thuẫn vợ chồng chị Tuyến, anh Huyến phát sinh từ năm 2020, nguyên nhân do anh Huyến nghi ngờ sự chung thủy của chị Tuyến nên hay ghen tuông, vô cớ đánh đập chị Tuyến, chị Tuyến đã cố chịu đựng vì các con nhưng anh Huyến vẫn thường xuyên có hành vi bạo lực với chị nên tháng 6/2020 chị Tuyến phải chạy về nhà bố mẹ đẻ tại xã Văn Miếu ở, vợ chồng cũng ly thân từ đó đến nay, không quan tâm gì đến nhau nữa. Trình bày của chị Tuyến phù hợp với nội dung Tòa án xác minh tại khu dân cư nơi chị vợ chồng chị Tuyến sinh sống (BL33). Xét thấy, anh Huyến thường xuyên có hành vi bạo lực gia đình với chị Tuyến và đã được khu dân cư can thiệp nhưng anh Huyến vẫn không thay đổi. Như vậy có thể thấy cuộc hôn nhân của chị Tuyến, anh Huyến không còn khả năng đoàn tụ. Tại khoản 1 Điều 56- Luật hôn nhân và gia đình qui định “ Khi vợ hoặc chồng có yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ của vợ chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng…”.
Từ những nhận định trên, đủ cơ sở kết luận: Tình trạng hôn nhân giữa chị Tuyến và anh Huyến đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên HĐXX chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Tuyến đối với anh Huyến là có căn cứ qui định tại khoản 1 Điều 56- Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung: Cháu Nguyễn Thị Khánh Ly- SN 01/11/2009 và Nguyễn Thành Lương- SN 28/6/2013, hiện nay các cháu đang ở cùng anh Huyến. Ly hôn chị Tuyến có nguyện vọng được nuôi dưỡng cháu Nguyễn khánh Ly, xét nguyện vọng của chị Tuyến là chính đáng nên giao cho chị Tuyến trực tiếp nuôi cháu Khánh Ly; Giao cho anh Huyến trực tuyến nuôi cháu Lương cho anh Huyến nuôi, không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung là có căn tại khoản 2 Điều 81- Luật hôn nhân và gia đình 2014.
Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp: Chị Tuyến không yêu cầu giải quyết về tài sản , công nợ, chung, anh Huyến vắng mặt nên HĐXX không xem xét.
Về án phí và quyền kháng cáo: Chị Tuyến phải nộp tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Các đương sự được quyền khán cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, khoản 1+2 Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147, khoản 1+3 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Hà Thị Tuyến. Cho chị Hà Thị Tuyến được ly hôn anh Nguyễn Xuân Huyến.
2. Về con chung: Giao cho chị Hà Thị Tuyến trực tiếp nuôi cháu Nguyễn Thị Khánh Ly- SN 01/11/2009; Giao cho anh Nguyễn Xuân Huyến trực tiếp nuôi cháu Nguyễn Thành Lương- SN 28/6/2013, kể từ tháng 9/2022 cho đến khi các con chung thành niên, tự lực được. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Chị Tuyến và anh Huyến đều có quyền và nghĩa vụ với con chung, không ai được cản trở.
3. Về án phí: Chị Hà Thị Tuyến phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Xác nhận chị Tuyến đã nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí theo Biên lai thu số AA/2020/0006853 ngày 20/6/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ.
Các đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại trụ sở UBND nơi cư trú, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm.
"Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 - luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7;, Điều 7a, 7b và 9 luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 luật thi hành án dân sự."
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKS huyện; - Chi cục THADS huyện. - UBND xã Tân Minh. - Lưu HS + VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Đã ký Nguyễn Thị Bích Thủy |