- Tranh chấp gì? Tranh chấp về cấp dưỡng — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp yêu cầu cấp dưỡng nuôi con sau ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đào Thị Diệu N.
- Căn cứ chính? Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG HỒ TỈNH VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 39/2022/HNGĐ-ST Ngày: 25/4/2022. V/v "Tranh chấp về cấp dưỡng nuôi con chung". |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG HỒ, TỈNH VĨNH LONG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Ánh Tuyết
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Minh Toàn
Ông Nguyễn Văn Trước
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Anh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ: Không tham gia phiên tòa.
Trong ngày 25 tháng 4 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 269/2022/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 10 năm 2022 về việc “tranh chấp về cấp dưỡng nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 02 năm 2022, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Đào Thị Diệu N, sinh năm 1992
Hộ khẩu thường trú: Ấp P, xã Q, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre.
Chỗ ở hiện nay: Số 158B/11, ấp P, xã L, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long.
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Quý H, sinh năm 1988 (vắng mặt)
Địa chỉ: Số 204A/11, ấp H, xã N, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện và những lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Đào Thị Diệu N trình bày:
Nguyên trước đây chị với anh Nguyễn Quý H là vợ chồng và đã thuận tình ly hôn theo quyết định số: 318/2019/QĐST-HNGĐ ngày 12/11/2019 của Tòa án nhân dân huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long. Theo quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự thì chị và anh H thỏa thuận giao con chung là Nguyễn Gia H, sinh ngày 03/7/2013 cho chị nuôi dưỡng, anh H không phải cấp dưỡng nuôi con. Tuy nhiên, chị và anh H có thỏa thuận riêng trước khi ly hôn là anh H sẽ tự nguyện cấp dưỡng nuôi con nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con khi ly hôn. Sau khi ly hôn, anh H không thực hiện đúng thỏa thuận, không tới lui thăm con cũng như không gởi tiền cấp dưỡng cho con.
Hiện tại chị chỉ sống một mình không có ai phụ giúp trông con nên chị phải ở nhà vừa trông con vừa làm gia công tại nhà như đan lát, buôn bán khô nên thu nhập bấp bênh mỗi ngày chỉ khoảng 40.000 đồng đến 50.000 đồng. Nhưng chi phí tối thiểu cho sinh hoạt, học tập của con ngày càng tăng lên, khả năng thực tế của chị không đủ nuôi con. Hiện nay bé Nguyễn Gia H 09 tuổi, đang học lớp 3 tại trường tiểu học P, xã P, huyện Long Hồ. Các chi phí cơ bản nuôi con mỗi tháng là 3.950.000 đồng gồm: tiền học phí, sách vở, tiền ăn hàng ngày, tiền sữa, tiền thuốc bổ và các chi phí khác.
Theo đơn khởi kiện chị N yêu cầu anh Nguyễn Quý H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung Nguyễn Gia H, sinh ngày 03/7/2013 mỗi tháng là 2.000.000 đồng đến khi con chung đủ 18 tuổi. Tại phiên hòa giải, chị N thay đổi yêu cầu khởi kiện chỉ yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con với mức cấp dưỡng 1.000.000 đồng/tháng.
- Bị đơn anh Nguyễn Quý H trình bày:
Anh và chị Đào Thị Diệu N có 01 con chung tên Nguyễn Gia H, sinh ngày 03/7/2013. Anh và chị N đã ly hôn và thỏa thuận chị N nuôi dưỡng con chung, anh không cấp dưỡng nuôi con. Nay theo yêu cầu của chị N thì anh không đồng ý cấp dưỡng nuôi cháu Nguyễn Gia H. Lý do: hiện gia đình anh gặp rất nhiều khó khăn về kinh tế vì nuôi mẹ già (đã 62 tuổi), sau khi ly hôn với chị N thì anh đã kết hôn và có con nên phải lo cho vợ con. Anh là lao động chính trong gia đình, vợ anh không có đi làm chỉ ở nhà lo cho con. Công việc của anh hiện nay là chạy xe ba gác chở hàng thuê thu nhập mỗi tháng khoảng 1.600.000 đồng đến 1.700.000 đồng, ngoài ra không có thu nhập nào khác.
Tại phiên tòa, chị N thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện, chị yêu cầu anh Nguyễn Quý H cấp dưỡng nuôi cháu Nguyễn Gia H mỗi tháng là 750.000 đồng cho đến khi cháu Hân đủ 18 tuổi.
Bị đơn anh Nguyễn Quý H vắng mặt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Nguyên đơn chị Đào Thị Diệu N khởi kiện tranh chấp về cấp dưỡng nuôi con chung với bị đơn Nguyễn Quý H có địa chỉ tại ấp H, xã N, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long. Do đó, Tòa án nhân dân huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long thụ lý và giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình theo thủ tục sơ thẩm được quy định tại khoản 5 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Bị đơn anh Nguyễn Quý H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa sơ thẩm nhưng vẫn vắng mặt không có lý do tại phiên tòa không vì sự kiện bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đối với bị đơn Nguyễn Quý H.
Về nội dung:
Theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số: 318/2019/QĐST-HNGĐ ngày 12/11/2019 của Tòa án nhân dân huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long nội dung về con chung là: chị N được quyền nuôi dưỡng cháu Nguyễn Gia H, sinh ngày 03/7/2013, anh H không phải cấp dưỡng nuôi con. Sau khi ly hôn, anh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung.
Tuy nhiên, sau khi ly hôn anh H đã không thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình đối với con chung, không thăm nom, chăm sóc con theo quy định của pháp luật. Do kinh tế khó khăn, chị N không có thu nhập ổn định, một mình nuôi con nên chị N yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.
Xét cháu Nguyễn Gia H là con chung của chị N và anh H, anh H không phải là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Do đó, anh H phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con theo quy định tại khoản 2 Điều 82 của Luật hôn nhân và gia đình. Mặt khác, việc anh H phải cấp dưỡng nuôi cháu Nguyễn Gia H là thể hiện trách nhiệm và nghĩa vụ của người cha đối với con. Tại phiên tòa, chị N thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện chỉ yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con với mức cấp dưỡng 750.000 đồng/tháng. Xét mức cấp dưỡng mà chị N yêu cầu là không cao so với chi phí thực tế để nuôi con và cũng đã xem xét đến điều kiện kinh tế khó khăn của anh H nên Hội đồng xét xử quyết định chấp nhận yêu cầu của chị N. Buộc anh H cấp dưỡng nuôi cháu Hân với mức cấp dưỡng 750.000 đồng/tháng.
Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc cấp dưỡng nuôi con theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Căn cứ các Điều Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 107, Điều 110, Điều 116, Điều 117 của luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đào Thị Diệu N.
1. Buộc anh Nguyễn Quý H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung là cháu Nguyễn Gia H, sinh ngày 03/7/2013 với mức cấp dưỡng mỗi tháng là 750.000 đồng (bảy trăm năm mươi nghìn đồng). Thời gian cấp dưỡng tính từ ngày bản án có hiệu pháp luật cho đến khi cháu Nguyễn Gia H đủ 18 tuổi.
2. Về án phí: Buộc anh Nguyễn Quý H nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm về việc cấp dưỡng nuôi con.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử công khai, nguyên đơn có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Vĩnh Long: 01b; - VKS nhân dân huyện Long Hồ: 01b; - Chi cục THADS huyện Long Hồ: 01b; - Các đương sự: 02b; - Lưu: 04b. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Phạm Thị Ánh Tuyết |