- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất"
- Tòa quyết gì? Điều 411 Bộ luật dân sự năm 2005;
- Căn cứ chính? Điều 119 Bộ luật Dân sự; Điều 124 Bộ luật Dân sự; Điều 126 Bộ luật Dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ TỈNH HẬU GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 39/2022/DS-ST Ngày: 22 – 7 – 2022 V/v: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lữ Thành Đồng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Minh Thâ ̣t
2. Ông Trương Văn Chung
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Phu ̣ng là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa: Ông Ma ̣ch Văn Hiểu - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 7 năm 2022, tại Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 106/2020/TLST-DS ngày 02 tháng 10 năm 2020, về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 64/2022/QĐXXST-DS ngày 01 tháng 7 năm 2022, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
1. Ông Sơn S, sinh năm: 1967 (chết)
Nơi cư trú: Ấp 12, thị trấn V, huyện L, tỉnh Hậu Giang.
Ngườ i kế thừ a quyền và nghia vu ̣̃
:
1.1. Anh Sơn T, sinh năm: 1989 (vắng mă ̣t)
Nơi cư trú: Ấp Bà G, thị trấn Ng, huyê ̣n H, tỉnh Bạc Liêu
1.2. Anh Sơn X, sinh năm: 1991 (vắng mă ̣t)
Nơi cư trú: Ấp 12, thị trấn V, huyện L, tỉnh Hậu Giang.
2. Bà Thị Th, sinh năm: 1969
Nơi cư trú: Ấp 12, thị trấn V, huyện L, tỉnh Hậu Giang.
Ngườ i đại diện theo ủy quyền của bà Thị Th là Chị Quách Thảo Ng, sinh năm: 1997. Văn bản ủy quyền ngày 11/11/2021 (có mặt).
Nơi cư trú: Ấp 1, thị trấn V, huyện L, tỉnh Hậu Giang.
- Bị đơn:
1. Chị Hứa Thị Như Ý, sinh năm: 1993 (có mă ̣t)
Nơi cư trú: Ấp 11, thị trấn V, huyện L, tỉnh Hậu Giang
2. Ông Đoàn Văn T, sinh năm: 1967 (vắng mă ̣t)
Nơi cư trú: Ấp 2, thị trấn V, huyện L, tỉnh Hậu Giang
3. Bà Nguyễn Thị Hồng O, sinh năm: 1968 (vắng mă ̣t)
Cư trú: Ấp 2, thị trấn V, huyện L, tỉnh Hậu Giang
- Ngườ i có quyền lợi và nghia vụ liên quan : Ủy ban nhân dân huyện L .
̃
Đa ̣i diê ̣n theo ủy quyền : Ông Trần Ngo ̣c Thanh Th – Chứ c vu ̣: Phó trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường huyện L . Văn bản ủy quyền ngày 25/4/2022 (vắng mă ̣t)
Đi ̣a chi: Ấp 1, thị trấn V, huyện L, tỉnh Hậu Giang̉
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa đại diê ̣n theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Do quen biết nên vào năm 2011 ông Sơn S và bà Thị Th có hỏi vay của ông T, bà O số tiền 30.000.000 đồng, lãi suất 15%/tháng, thời hạn vay 12 tháng, khi vay có làm biên nhận nợ. Ông Sơn S và bà Thị Th có trả cho ông T, bà O được số tiền lãi là 45.000.000 đồng, khi trả không làm biên nhận.
Đến tháng 4/2013 ông T, bà O cho rằng ông Sơn S và bà Thị Th còn nợ tổng số tiền là 125.000.000 đồng. Do không có tiền trả nợ nên ông Sơn S và bà Thị Th có cố cho ông T, bà O phần đất diện tích 386,9m2, loại đất CLN với số tiền 150.000.000 đồng, cố thời hạn 05 năm. Khi đó ông Tế, bà Oanh còn nợ lại ông Sơn S, bà Thị Th số tiền 25.000.000 đồng. Nếu sau 05 năm ông Sơn S, bà Thị Th không chuộc lại thì phần đất và nhà trên thuộc về ông T, bà O. Việc cầm cố thì chỉ có ông Sơn S ký tên chứ bà Thị Th không biết và cũng không có ký tên, chử ký trong tờ cố đất là do ông S ký thay bà Th.
Đến tháng 5/2017 ông S, bà Th yêu cầu ông T, bà O trả số tiền còn nợ là 25.000.000 đồng nhưng ông T, bà O không đồng ý nên ông S, bà Th không đồng ý tiếp tục thực hiện việc cầm cố. Ông Sơn S và bà Thị Th không có chuyển nhượng phần nhà và đất cho ông T và bà O. Còn việc lý do tại sao ông T, bà O đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì ông S không biết.
Khi ông T, bà O chuyển nhượng phần đất trên lại cho chị Như Ý thì ông S không biết. Đến khoảng năm 2018 thì ông S mới biết nên có làm đơn khởi kiện đến Tòa án huyện Long Mỹ, sau đó thì ông S, bà Th rút lại đơn khởi kiện và sự việc kéo dài cho đến nay. Phần đất hiê ̣n ta ̣i do bà Thi ̣ Th đang quản lý.
Nay nguyên đơn khở i kiê ̣n yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Sơn S, bà Thị Th với ông Đoàn Văn T, bà Nguyễn Thị Hồng O vô hiệu và tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Đoàn Văn T, bà Nguyễn Thị Hồng O với bà Hứa Thị Như Ý vô hiệu, không yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu.
Ngườ i kế thừ a quyền và nghia vụ của n guyên đơn Sơn S là anh Sơn T,
̃
anh Sơn X trình bày: Thống nhất với ý kiến trình bày và yêu cầu của bà Thị Th. Ngoài ra không có yêu cầu gì khác.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Hứ a Thi ̣ Như Ý trình bày:
Vào tháng 9/2017 tôi có nhận chuyển nhượng phần đất và 01 căn nhà của ông Đoàn Văn T và bà Nguyễn Thị Hồng O có diện tích 343,9 m2 với giá thỏa thuận là 220.000.000 đồng (hai trăm hai mươi triệu đồng), hai bên có làm giấy tay sau đó thì làm hợp đồng theo quy định và có công chứng hợp pháp, tuy nhiên giá chuyển nhượng trong hợp đồng chỉ ghi là 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng), tôi cũng không biết lý do gì, chỉ nghe ông T nói ghi như vậy để giảm tiền nộp thuế trước bạ. Sau khi viết giấy tay thì tôi có đưa tiền cọc cho ông Tế số tiền 20.000.000 đồng. Sau khi làm xong thủ tục chuyển nhượng với ông Tế vào khoảng tháng 11 năm 2017 thì ông T giao nhà và đất cho tôi sử dụng từ đó đến nay.
Khi thỏa thuận mua đất thì tôi thỏa thuận mua luôn phần căn nhà trên đất với ông T có hợp đồng mua bán ngày 11/8/2017. Do đi làm ăn xa nên tôi khóa cửa nhà lại cho đến khi ông S khởi kiện ông T và Tòa án có tiến hành thẩm định phần nhà và đất thì ông S tự ý cắt khóa của nhà của tôi, sau đó ông S rút đơn khởi kiện lại đến ngày 20/11/2019 thì vợ chồng ông S ngang nhiên vào căn nhà tôi sống, tôi có nhiều lần yêu cầu địa phương giải quyết nhưng ông Sạnh cho rằng không có bán nhà và đất nên hai bên tranh chấp cho đến nay.
Nay bị đơn thống nhất tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa chi ̣ Hứ a Thi ̣ Như Ý vớ i ông Đoàn Văn Tế , bà Nguyễn Thị Hồng O vô hiê ̣u và yêu cầu giải quyết hâ ̣u quả của hợp đồng vô hiệu.
Tại biên bản ghi lời khai của Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ , bị đơn ông Đoà n Văn T trình bày:
Nguồn gốc phần nhà và đất hiê ̣n đang tranh chấp là do ông T nhâ ̣n chuyển nhượng của ông Sơn S và bà Thị Th vào năm 2013 vớ i giá 150.000.000 đồng, vớ i tổng diê ̣n tich là 386,9m2. Sau đó hai bên có làm hợp đồng chuyển nhượng
́ theo quy đi ̣nh , ông Tế đa đượ̃
c cấp giấy chứ ng nhâ ̣n quyền sử du ̣ng đất . Năm 2017 ông T chuyển nhượng phần nhà và đất trên la ̣i cho chi ̣ Hứ a Thi ̣ Như Ý vớ i giá 220.000.000 đồng, hiê ̣n ta ̣i chi ̣ Như Ý đa đượ̃
c cấp giấy chứ ng nhâ ̣n quyền sử du ̣ng đất. Khi chuyển nhượng nhà thi có làm giấy tay nhưng không ghi rõ là
̀
diê ̣n tich bao nh iêu, khi làm hợp đồng cũng không thể hiê ̣n căn nhà vi không
́
̀ phải là đất ở. Hiê ̣n ta ̣i ông T đa giao nhã
̀ và đất cho chi ̣ Như Ý nên ông T không có yêu cầu gì trong vụ kiện này, yêu cầu giải quyết theo quy đi ̣nh pháp luâ ̣t.
Tại biên bản ghi lờ i khai của Tò a á n nhân dân huyê ̣n Long Mỹ, bị đơn bà Nguyễn Thi ̣ Hồng O trình bày: Thống nhất theo lờ i trinh bày của ông T . Yêu
̀ cầu giải quyết theo quy đi ̣nh pháp luâ ̣t.
Ngườ i có quyề n lợi và nghia vụ liên quan Ủy ban nhân dân huyện L . Đại
̃
diê ̣n theo ủy quyền là ông Trần Ngọc Thanh Th trình bày:
Trườ ng hợp của bà Hứ a Thi ̣ Như Ý có đơn đề nghi ̣ cấp la ̣i , cấp đổi giấy chứ ng nhâ ̣n quyền sử du ̣ng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất lâ ̣p ngày 05/10/2017, vớ i tổng diê ̣n tich 343,9m2, thử a đất số 1533, tờ bản
́
đồ số 8, loại đất CLN , tọa lạc ấp 12, xã Vĩnh Viễn, huyê ̣n Long Mỹ , tỉnh Hậu Giang. Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Viễn xác nhâ ̣n thử a đất số 1533, tờ bản đồ số 8, loại đất CLN , ranh giớ i thử a đất không thay đổi , cấp đổi giấy chứ ng nhâ ̣n theo mẫu mớ i , đất không có tranh chấp và kê biên . Bà Hứa Thị Như Ý xin cấp lại, cấp đổi giấy chứ ng nhâ ̣n qu yền sử du ̣ng đất , quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là phù hợp . Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyê ̣n Long My căn cữ
́ Điều 76 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính Phủ.
Như vâ ̣y, đơn đề nghi ̣ cấp la ̣i, cấp đổi giấy chứ ng nhâ ̣n quyền sử du ̣ng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền vớ i đất của bà Hứ a Thi ̣ Như Ý lâ ̣p ngày 05/10/2017, vớ i tổng diê ̣n tich 343,9m2, thử a đất số 1533, tờ bản đồ số
́
8, loại đất CLN, tọa lạc ấp 12, xã Vĩnh Viễn, huyê ̣n Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang đảm bảo trinh tự thủ tục tại Điều 76 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014
̀ của Chính Phủ và Điều 10 Thông tư số 24/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trườ ng.
Viê ̣c bà Hứ a Thi ̣ Như Ý nhâ ̣n chuyển nhượng thử a đất số 1533, loại đất CLN từ ông Đoàn Văn T , bà Nguyễn Thị Hồng O được Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyê ̣n Long My xã ́c nhâ ̣n ngày 27/9/2017 là chuyển nhượng hết thử a đất số 1533, loại đất CLN, còn vấn đề nhà ở do hai bên tự thỏa thuận.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Mỹ trình bày quan điểm:
Về thủ tục tố tụng: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, các đương sự đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với bị đơn ông Đoàn Văn T, bà Nguyễn Thị Hồng O vắng mă ̣t không lý do ; ngườ i kế thừ a quyền và nghĩa vụ của ông Sơn S là anh Sơn T, anh Sơn X và ngườ i có quyền lợi , nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân huyện L vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo quy định.
Về nội dung vụ án: Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử du ̣ng đất giữa ông Sơn S, bà Thị Th vớ i ông Đoàn Văn T, bà Nguyễn Thị Hồng O vô hiê ̣u; Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Đoàn Văn T, bà Nguyễn Thị Hồng O vớ i chi ̣ Hứ a Thi ̣ Như Ý vô hiê ̣u.
Về hâ ̣u quả của hợp đồng vô hiê ̣u: Ghi nhâ ̣n sự thỏa thuâ ̣n của các đương sự như sau : Nguyên đơn Thi ̣ Th và người kế thừa quyền và ngh ĩa vụ của ông Sơn S là anh Sơn T và anh Sơn X có trách nhiệm trả cho bị đơn Hứa Thị Như Ý số tiền 300.000.000đ (ba trăm triê ̣u đồng). Bị đơn Hứa Thị Như Ý có trách nhiê ̣m giao la ̣i cho nguyên đơn Thi ̣ Th và người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Sơn S là anh Sơn T và anh Sơn X phần đất theo như đo đa ̣t thực tế là 343,9m2, loại đất CLN, tại thửa 1533, đất to ̣a la ̣c ta ̣i ấp 12, thị trấn V, huyê ̣n L, tỉnh Hậu Giang cùng toàn bộ hoa màu, công trinh vâ ̣t kiến trúc trên đất.
̀
Về án phi và chi phi tố tu ̣ng: Đương sự phải nô ̣p theo quy đi ̣nh pháp luâ ̣t.
́
́
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
. Về thủ tục tố tụng:
. Các đương sự phát sinh tranh chấp về việc thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Xác định đây là quan hệ pháp luật “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”. Căn cứ theo quy định tại Điều 26, 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.
. Đối với bi ̣ đơn ông Đoàn Văn T , bà Nguyễn Thị Hồng O vắng mă ̣t không lý do; ngườ i kế thừ a quyền và nghia vu ̣̃
của ông Sơn S là anh Sơn T, anh Sơn X và người có quyền lợi , nghĩa vụ liên quan Ủ y ban nhân dân huyê ̣n L vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đương sự nhưng vẫn đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của họ theo quy định pháp luật.
. Về tư cách đương sự: Trong quá trinh giải quyết vu ̣ án nguyên đơn
̀ Hứ a Thi ̣ Như Ý rút toàn bô ̣ yêu cầu khở i kiê ̣n , bị đơn không rút yêu cầu phản tố. Nên Tòa án tiến hành thay đổi tư cách tố tu ̣ng của đương sự . Căn cứ đơn phản tố của bị đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Sơn S, bà Thị Th với ông Đoàn Văn T, bà Nguyễn Thị Hồng O vô hiệu và tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Đoàn Văn T, bà Nguyễn Thị Hồng O với chị Hứa Thị Như Ý vô hiệu nên Hô ̣i đồng xét xử thay đổi tư cách của đương sự như sau : Nguyên đơn chị Hứa Thị Như Ý và người có liên quan ông Đoàn Văn T , bà Nguyễn Thị Hồng O trở thành bị đơn; bị đơn Thị Th trở thành nguyên đơn.
. Về nội dung vụ án: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, hội đồng xét xử xét thấy:
. Đối với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Sơn S, bà Thị Th vớ i ông Đoàn Văn T , bà Nguyễn Thị Hồng O lâ ̣p ngày 15/4/2013 hô ̣i đồng xét xử thấy rằng : Nguyên đơn cho rằng d o quen biết nên vào năm 2011 ông Sơn S và bà Thị Th có hỏi vay của ông T, bà O số tiền 30.000.000 đồng, lãi suất 15%/tháng, thời hạn vay 12 tháng, khi vay có làm biên nhận nợ. Ông Sơn S và bà Thị Th có trả cho ông T, bà O được số tiền lãi là 45.000.000 đồng, khi trả không làm biên nhận. Đến tháng 4/2013 ông T, bà O cho rằng ông Sơn S và bà Thị Th còn nợ tổng số tiền là 125.000.000 đồng. Do không có tiền trả nợ nên ông Sơn S và bà Thị Th có cố cho ông T, bà O phần đất diện tích 386,9m2, loại đất CLN với số tiền 150.000.000 đồng chứ không có viê ̣c chuyển nhượng đất, mà chỉ là ký hợp đồng để thực hiện nghĩa vụ trả nợ, trong quá trình thực hiện nghĩa vụ trả tiền thì vợ chồng ông T, bà O không thực hiện đúng nội dung thoả thuận nên nguyên đơn yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng với ông T bà O.
Mă ̣c dù bi ̣ đơn Đoàn Văn T , Nguyễn Thi ̣ Hồng O đa đượ̃
c triê ̣u tâ ̣p hợp lê ̣ nhưng vắng mă ̣t không lý do nhưng ta ̣i biên bản ghi lờ i khai ngày 25/11/2020 của Tòa án thì bị đ ơn thừ a nhâ ̣n sau khi chuyển nhượng xong thi bi ̣ đơn không
̀ có nhận nhà và đất để sử dụng.
Căn cứ vào các chứ ng cứ có trong hồ sơ có cơ sở xác đi ̣nh hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử du ̣ng đất giữa ông Sơn Sa ̣nh , bà Thị Thanh v ới ông Đoàn Văn T , bà Nguyễn Thị Hồng O là hợp đồng giả tạo nhằm che giấu hợp đồng vay tiền.
Tại Điều 129 Bô ̣ luâ ̣t dân sự 2005 quy đi ̣nh: “Khi cá c bên xá c lập giao dịch dân sự một cách giả tạo nhằm che giấu một giao di ̣ch khá c thi giao di ̣ch
̀ giả tạo vô hiệu …”.
Theo như hợp đồng chuyển nhượng quyền sử du ̣ng đất giữa ông Sơn
Sạnh, bà Thị Thanh với ông Đoàn Văn T , bà Nguyễn Thị Hồng O lâ ̣p ngày 15/4/2013 thể hiê ̣n: Chuyển nhượng phần đất d iê ̣n tich 386,9m2, không đề câ ̣p
́ đến việc chuyển nhượng nhà . Tuy nhiên, khi các bên phát sinh tranh chấp , Tòa án tiến hành thẩm định phần đất tranh chấp thì xác định trên đất có căn nhà do ông Sơn S, bà Thị Th đang quản l ý với tổng diện tích xây dựng và sử dụng là 90,8m2, kết cấu khung cô ̣t bê tông đúc sẵn + gỗ nhóm 4, máy tole, 03 vách tole + 01 vách tường , nền ga ̣ch men . Mă ̣c dù ông T , bà O cho rằng có chuyển nhượng căn nhà nhưng không đư a ra được chứ ng cứ gi chứ ng minh viê ̣c có
̀ chuyển nhượng nhà và lờ i trinh bày của ông T , bà O không được ông nguyên
̀ đơn thừ a nhâ ̣n.
Theo khoản 1 Điều 411 bô ̣ luâ ̣t dân sự 2005 quy đi ̣nh: “Trong trườ ng hợp ngay từ khi ký kết , hợp đồng có đối tượng không thể thực hiện được vì lý do khách quan thì hợp đồng này bị vô hiệu”.
Do đó , có căn cứ tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử du ̣ng đất giữa ông Sơn S , bà Thị Th vớ i ông Đoàn Văn T , bà Nguyễn Thi ̣ Hồng O lâ ̣p ngày 15/4/2013 vô hiê ̣u do giả ta ̣o và có đối tượng không thể thực hiê ̣n được.
. Đối với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Đoàn Văn Tế, bà Nguyễn Thị Hồng O vớ i chi ̣ Hứ a Thi ̣ Như Ý lâ ̣p ngày 15/9/2017 hô ̣i đồng xét xử thấy rằng: Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử du ̣ng đất được công chứ ng, chứ ng thực đúng quy đi ̣nh pháp luâ ̣t. Tuy nhiên, khi chuyển nhượng nhà các bên không lập hợp đồng theo quy định m à chỉ làm giấy tay không được công chứ ng, chứ ng thực theo quy đi ̣nh . Do đó , hợp đồng chuyển nhượng nhà giữa ông T, bà O và chị Như Ý không tuân thủ về hình thức của giao dịch.
Theo Điều 118 Luâ ̣t nhà ở năm 2014 quy đi ̣nh về điều kiện nhà ở khi tham gia giao di ̣ch là phải có giấy chứ ng nhâ ̣n nhưng khi ông T, bà O bán nhà cho chị Như Ý thi ông T , bà O chưa được cấp giấy chứ ng nhâ ̣n nên viê ̣c mua bán này
̀ không phù hợp quy đi ̣nh pháp luâ ̣t về nhà ở. Ngoài ra, khi ông T, bà O bán căn nhà cho chị Như Ý thì căn nhà này không phải thuộc quyền sở hữu của ông T , bà O. Khi chuyển nhượng chi ̣ Như Ý nhầm lẫn căn nhà là của ông T , bà O nên đứ ng ra mua, nhưng thực chất căn nhà vẫn do phia nguyên đơn quản lý là có sự
́ nhầm lẫn về đối tượng sử du ̣ng.
Theo khoản 1 Điều 126 Bô ̣ luâ ̣t dân sự 2015 quy đi ̣nh: “Trườ ng hợp giao dịch dân sự được xác lập có sự nhầm lẫn làm cho một bên hoặc các bên không đạt được mục đich của viê ̣c xá c lập giao di ̣ch thi bên bi ̣ nhầm lẫn có quyền yêu
́
̀ cầu Tò a á n tuyên bố giao di ̣ch dân sự vô hiê ̣u…”.
Do đó , có căn cứ tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
giữa ông T, bà O vớ i chi ̣ Như Ý là vô hiê ̣u do nhầm lẫn.
. Ngoài ra, vào năm 2021 ông Sơn S chết, được gia đinh chôn cất trên
̀ phần đất tranh chấp . Viê ̣c ông Sơn S được chôn trên đất làm phần đất giảm giá trị sử dụng và bị hạn chế trong việc khai thác công dụng của đất . Bên ca ̣nh đó , mồ mả là nơi chôn cất thi thể , hài cốt của cá nhân. Mồ mả của cá nhân gắn liền vớ i nhân thân của ngườ i đó . Bảo vệ mồ mả của cá nhân cho dù ở bất kì xã hội nào cũng đều được quan tâm, chú ý theo tín ngưỡng, phong tu ̣c, tôn giáo.
Hiê ̣n ta ̣i, bị đơn Hứa Thị Như Ý không có nhu cầu sử dụng đất và cũng
đồng ý giao trả la ̣i đất cho phia nguyên đơn. Đa ̣i diê ̣n theo ủy quyền của nguyên
́ đơn thống nhất nhâ ̣n la ̣i đất và đồng ý trả la ̣i giá tri ̣ đất cho bi ̣ đơn Hứ a Thi ̣ Như Ý. Nhâ ̣n thấy nội dung thoả thuận giữa các đương sự không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội nên hô ̣i đồng xét xử ghi nhâ ̣n.
. Về giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu: Tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đồng ý trả cho bi ̣ đơn Hứ a Thi ̣ Như Ý số tiền chuyển nhượng đất và số tiền chênh lê ̣ch do hợp đồng vô hiê ̣u vớ i tổng số tiền là 300.000.000đ (ba trăm triê ̣u đồng). Bị đơn Hứa Thị Như Ý đồng ý nhận 300.000.000đ (ba trăm triê ̣u đồng) từ phia nguyên đơn , không yêu cầ u ông Tế ,
́
bà Oanh trả lại số tiền đa chuyển nhượ̃
ng và đồng ý giao la ̣i phần đất tranh chấp cho phía nguyên đơn. Xét thấy, đây là sự tự nguyê ̣n của đương sự và không trái quy đi ̣nh pháp luâ ̣t nên Hô ̣i đồng xét xử chấp nhâ ̣n.
. Án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Nguyên đơn bà Thị Th và bị đơn Hứa Thị Như Ý đồng ý nô ̣p án phi theo quy đi ̣nh nên Hô ̣i đồng xét xử ghi nhâ ̣n.
́
Do bà Thi ̣ Th và người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Sơn S là anh Sơn T và anh Sơn X là người dân tộc thiểu số , có hoàn cảnh gia đình khó khăn không có đủ tài sản để nô ̣p án phi , có xác nhận của Ủy ban nhân dân thi ̣ trấn
́
Vĩnh Viễn nên Hội đồng xét xử thống nhất giảm 50% mứ c án phi.
́
. Về chi phi tố tu ̣ng:
́
- Nguyên đơn bà Thị Th và người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Sơn S là anh Sơn T và anh Sơn X phải nộp 2.567.500 đồng (đa nô ̣̃ p xong).
- Bị đơn Hứa Thị Như Ý đồng ý nộp 2.567.500 đồng, để hoàn trả lại cho nguyên đơn.
. Từ những phân tích trên, xét đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa là có căn cứ để Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 26; Điều 35; Điều 39; Điều 91; Điều 227; Điều 228; Điều 147; Điều 273 và Điều 278 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Áp dụng:
Điều 411 Bộ luật dân sự năm 2005;
Điều 119, Điều 124, Điều 126, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015;
Điều 118 Luâ ̣t nhà ở 2014;
Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử :
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Thị Th và ngườ i kế thừ a quyền và nghĩa vụ của ông Sơn S là anh Sơn T và anh Sơn X đối vớ i bị đơn chị Hứ a Thị Như Ý, ông Đoàn Văn T, bà Nguyễn Thị Hồng O.
1.1. Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Sơn S, bà Thị Th vớ i ông Đoàn Văn T , bà Nguyễn Thị Hồng O lâ ̣p ngày 15/4/2013, tại thửa số 1533, tờ bản đồ số 08, đi ̣a chi thử ̉ a đất : ấp 12, thị trấn V, huyê ̣n L, tỉnh Hậu Giang được Ủy ban nhân dân xa V , huyê ̣̃
n L, tỉnh Hậu Giang chứng thực số 54, quyển số 01 TP/CC-SCT/HĐGD, ngày 15/4/2013 vô hiê ̣u
1.2. Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử du ̣ng đất giữa ông Đoàn Văn T, bà Nguyễn Thị Hồng O vớ i chi ̣ Hứ a Thi ̣ Như Ý lâ ̣p ngày 15/9/2017, tại thử a số 1533, tờ bản đồ số 08, đi ̣a chi thử ̉ a đất: ấp 12, thị trấn V, huyê ̣n L, tỉnh Hâ ̣u Giang được Ủ y ban nhân dân xa V , huyê ̣n L, tỉnh Hậu Giang chứn g thực
̃
số 213, quyển số 01 - SCT/HĐ,GD ngày 15/9/2017 vô hiê ̣u.
2. Về hâ ̣u quả của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất bị vô hiê ̣u. Ghi nhâ ̣n sự thỏa thuâ ̣n của các đương sự cụ thể như sau:
2.1. Nguyên đơn bà Thị Th và người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Sơn S là anh Sơn T và anh Sơn X có trách nhiệm trả cho bị đơn chị Hứ a Thi ̣ Như Ý số tiền 300.000.000đ (ba trăm triê ̣u đồng).
2.2. Bị đơn chị Hứ a Thi ̣ Như Ý có trách nhiê ̣m giao la ̣ i cho nguyên đơn bà Thị Th và người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Sơn S là anh Sơn T và anh Sơn X phần đất theo như đo đa ̣t thực tế là 343,9m2, loại đất CLN, tại thửa 1533, đất to ̣a la ̣c ta ̣i ấp 12, xã V (nay là thị trấn V ), huyê ̣n L, tỉnh Hậu Giang cùng toàn bộ cây trồng, công trinh xây dựng trên đất. (có tứ cận như sau: ngang
̀ giáp lề lộ xi măng là 16,20m; ngang giáp thử a 347 là 15,60m; dài giáp thửa 347 là 9,03m + 12,17m; dài giáp thửa 1532 là 9,01m + 13,29m). (có lược đồ kèm theo).
Nguyên đơn bà Thị Th và ngườ i kế thừ a quyền và nghĩa vụ của ông Sơn S là anh Sơn T và anh Sơn X có quyền liên hệ với cơ quan, tổ chức có thẩm quyền để làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật.
3. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Nguyên đơn Thị Th phải nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng). Khấu trừ tiền tạm ứng án phí bà Thị Th đã nộp theo lai thu số 0006648 ngày 02/12/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang thành án phí.
- Nguyên đơn Thị Th và ngườ i kế thừ a quyền và nghĩa vụ của ông Sơn S là anh Sơn T và anh Sơn X phải nộp là 7.500.000đ (bảy triê ̣u năm trăm nghìn đồng).
- Bị đơn Hứa Thị Như Ý phải nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng). Khấu trừ tiền tạm ứng án phí chị Như Ý đã nộp theo lai thu số 0001927 ngày 02/10/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang thành án phí.
- Hoàn trả lại cho những ngườ i thừ a kế của ông Sơn S là bà Thị Th, anh Sơn X, anh Sơn T số tiền tạm ứng án phí là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo lai thu số 0006647 ngày 02/12/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang thành án phí.
5. Về chi phí tố tụng:
5.1. Nguyên đơn bà Thị Th và người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Sơn S là anh Sơn T và anh Sơn X phải nộp 2.567.500 đồng (đa nô ̣̃ p xong).
5.2. Bị đơn Hứa Thị Như Ý đồng ý nô ̣p 2.567.500 đồng, để hoàn trả lại cho nguyên đơn.
6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
7. Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết, tống đạt theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hậu Giang; - VKSND huyện Long Mỹ; - Chi cục THADS huyện Long Mỹ; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đa ky) ̃ ́ Lữ Thành Đồng |