vanban.org

Bản án 39/2022/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu kiến nghị thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số C 997637, thửa đất số 78, tờ bản đồ số 07, diện tích 193m2, do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ k Nông cấp ngày 24/4/2019 cho ông Lê Nguyễn Ng H1 và bà Trần Thị Thu H2, đất t a lạc tại: Thị t…

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Tr ng L, tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản g n liền với đất ngày 18/4/2019 giữa ông Nguyễn Tr ng L với ông Lê Nguyễn Ng H1 và bà Trần Thị Thu H2 đối với thửa đất số 78, tờ bản đồ số 7, diện tích 193m2, toạ lạc tại tổ dân phố 9, thị t…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất — án dân sự — "NĐ: Ông Nguyễn Trọng L với BĐ: Ông Lê Nguyễn Ng H1 và bà Trần Thị Thu H2"
  • Tòa quyết gì? Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu kiến nghị thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số C 997637, thửa đất số 78, tờ bản đồ số 07, diện tích 193m2, do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ k Nông cấp ngày 24/4/2019 cho ông Lê Nguyễn Ng H1 và bà Trần Thị Thu H2, đất t a lạc tại: Thị t…
  • Căn cứ chính? Điều 116 Bộ luật Dân sự; Điều 117 Bộ luật Dân sự; Điều 118 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
H ỆN
MI
TỈNH K NÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 39/2022/DS-ST
Ngày 21/9/2022
Tranh ch p h p n hu n
nh n qu n s d n t

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN H ỆN

MI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trương Ng c Thanh;

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Thanh và ông Nguyễn Duy Chấn;

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Xuyến, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đ k Mil.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ k Mil tham gia phiên toà: Bà Lê Thu Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 21/9/2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ k Mil xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 11/2022/TLST-DS ngày 18/01/2022 về việc:

ranh h p h p n hu n nh n qu n s d n

t , theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2022/QĐXXST-DS ngày 19/8/2022, Quyết định hoãn phiên tòa số: 37/2022/QĐST-DS ngày 08/9/2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 44/2022/QĐST-DS ngày 15/9/2022, giữa các đương sự:

- N u ên ơn: Ông Nguyễn Tr ng L – Có mặt;

Địa chỉ: Tổ A, thị trấn Đ k Mil, huyện Đ k Mil, tỉnh Đ k Nông

-

ơn: Ông Lê Nguyễn Ng H1 – V ng mặt, đã tống đạt hợp lệ;

Bà Trần Thị Thu H2 – V ng mặt, đã tống đạt hợp lệ;

Địa chỉ: Thôn Vinh Đ, xã Đức M, huyện Đ k Mil, tỉnh Đ k Nông.

- N ời có quy n l i, n hĩa v liên quan:

Bà Hoàng Thị Q – V ng mặt, có đơn đề nghị xét xử v ng mặt;

Địa chỉ: Tổ A, thị trấn Đ k Mil, huyện Đ k Mil, tỉnh Đ k Nông

Anh Nguyễn Tr ng H, chị Nguyễn Thị Hằng Ph – Đều v ng mặt

N ời ại diện theo ủy quy n: Ông Nguyễn Tr ng L (theo giấy ủy quyền ngày 19/4/2022) – Có mặt;

Địa chỉ: Tổ A, thị trấn Đ k Mil, huyện Đ k Mil, tỉnh Đ k Nông

Ngân hàng TMCP Q, Chi nhánh Đ k L k – Phòng giao dịch Buôn Ma Thuột (VIB);

N ời ại diện theo pháp luật: Ông Đoàn Mạnh Tuấn Anh – Chức vụ: Giám đốc Ngân hàng bán lẻ - Ngân hàng TMCP Q, Chi nhánh Đ k L k – Phòng giao dịch Buôn Ma Thuột;

N ời ại diện theo ủy quy n: Ông Trần Đình Th – Chức vụ: Cán bộ quản lý khách hành - Ngân hàng TMCP Q, Chi nhánh Đ k L k – Phòng giao dịch Buôn Ma Thuột (theo Giấy ủy quyền số: 03082022.22 ngày 03/8/2022) – V ng mặt;

Địa chỉ: 39 - 41, Quang Trung, Thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đ k L k

Văn phòng Công chứng V Minh V;

N ời ại diện theo pháp luật: Ông V Minh V – Trưởng Văn phòng Công chứng V Minh V – V ng mặt, có đơn đề nghị xét xử v ng mặt;

Địa chỉ: Số 01A đường Hùng Vương, thị trấn Đ k Mil, huyện Đ k Mil, tỉnh Đ k Nông.

Ủy ban nhân dân thị trấn Đ k Mil, huyện Đ k Mil, tỉnh Đ k Nông.

N ời ại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Quốc L – Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị trấn Đ k Mil, huyện Đ k Mil – V ng mặt, có đơn đề nghị xét xử v ng mặt;

Địa chỉ: Thị trấn Đ k Mil, huyện Đ k Mil, tỉnh Đ k Nông.

NỘI D NG VỤ ÁN:

- Theo ơn khởi kiện của n u ên ơn và trong quá trình giải quyết v án, ông N u n r n trình bày: Năm 1990, tôi kết hôn với chị Hoàng Thị Q tại Ủy ban nhân dân xã Liên Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An. Đến năm 1994, gia đình tôi chuyển vào sinh sống tại huyện Đ k Mil, tỉnh Đ k L k c nay là tỉnh Đ k Nông; hiện vợ chồng và các con đang cư trú tại tổ dân phố 9, thị trấn Đ k Mil, huyện Đ k Mil, tỉnh Đ k Nông.

Về nguồn gốc thửa đất hiện nay vợ chồng tôi đang sử dụng là do khai phá năm 1994, diện tích 250m2, thời điểm khai phá đất thuộc U ban nhân dân huyện Đ k Mil quản lý. Sau khi khai phá xong, vợ chồng chúng tôi sử dụng ổn định không tranh chấp với ai, đến năm 2003 kê khai xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AA 023257, thửa đất số 78, tờ bản đồ số 07, diện tích 193m2, do U ban nhân dân huyện Đ k Mil, tỉnh Đ k Nông cấp ngày 17/12/2003 cho hộ ông Nguyễn Tr ng L, đất t a lạc tại: Thị trấn Đ k Mil, huyện Đ k Mil, tỉnh Đ k Nông. Năm 2017, vợ chồng tôi thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AA 023257, thửa đất số 78, tờ bản đồ số 07, diện tích 193m2 tại Ngân hàng Agribank - Chi nhánh Đ k Mil vay số tiền 200.000.000 đồng để lấy tiền chi phí cho vợ tôi đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan. Đến năm 2018, do phải đáo hạn tại Ngân hàng khoản vay trên nhưng vì vợ tôi ở nước ngoài, không có ký u quyền nên Ngân hàng không cho vay lại. Vì vậy, tôi phải vay bà Bùi Thị Thanh Ng số tiền 200.000.000 đồng để trả nợ cho Ngân hàng, nhưng hai bên không viết giầy tờ vay mượn tiền với nhau. Bà Ng chỉ yêu cầu tôi rút sổ đỏ ra đưa cho bà Ng để bà Ng đi vay Ngân hàng rồi tôi lấy tiền vay trả cho bà Ng.

Tuy nhiên, sau khi tôi đã rút sổ đỏ đưa cho bà Ng đi vay thì khi bà Ng cầm sổ đỏ đi vay các Ngân hàng thấy sổ đỏ đứng tên hai vợ chồng, không có văn bản u quyền của vợ tôi nên không Ngân hàng nào cho vay. Vì vậy, khoảng đầu tháng 11/2018 để vay được tiền Ngân hàng tôi nhờ bà Ng liên hệ làm thủ tục để một mình tôi đứng tên trong sổ đỏ vay tiền cho thuận tiện. Sau đó, bà Ng đã báo và cho tôi xem tôi đã được cấp 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số C 966310, thửa đất số 78, tờ bản đồ số 07, diện tích 193m2, do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ k Nông cấp ngày 16/11/2018 cho ông Nguyễn Tr ng L, đất t a lạc tại: Thị trấn Đ k Mil, huyện Đ k Mil, tỉnh Đ k Nông. Thực tế, tôi không được giữ sổ đỏ trên mà do bà Ng giữ, tôi c ng không dùng sổ đỏ đã được cấp đứng tên của mình để thế chấp vay tại bất k Ngân hàng nào trong nước. Lý do vì sao thửa đất số 78, tờ bản đồ số 07, diện tích 193m2, do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ k Nông cấp ngày 24/4/2019 cho ông Lê Nguyễn Ng H1 và bà Trần Thị Thu H2, đất t a lạc tại: Thị trấn Đ k Mil, huyện Đ k Mil, tỉnh Đ k Nông hiện đang tranh chấp theo đơn khởi kiện của tôi thì tôi hoàn toàn không biết. Từ trước tới nay, tôi c ng không gặp, thoả thuận và ra U ban nhân dân thị trấn Đ k Mil để chứng thực hợp đồng chuyển nhượng đất và tài sản trên đất đối với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số C 966310, thửa đất số 78, tờ bản đồ số 07, diện tích 193m2, do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ k Nông cấp ngày 16/11/2018 đứng tên ông Nguyễn Tr ng L cho vợ chồng ông Lê Nguyễn Ng H1 và bà Trần Thị Thu H2. Vì vậy, tôi đã làm đơn tố cáo hành vi của bà Bùi Thị Thanh Ng ra Công an huyện Đ k Mil. Tại Thông báo số 1052/TB-CSĐT ngày 01/11/2021 của Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Đ k Mil thông báo kết quả giải quyết nguồn tin về tội phạm, theo thông báo kết quả giám định thể hiện chữ ký mang tên ông Nguyễn Tr ng L trong hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản g n liền với đất đối với thửa đất số 78, tờ bản đồ số 07, diện tích 193m2, địa chỉ tại Tổ dân phố 9, thị trấn Đ k Mil, huyện Đ k Mil, tỉnh Đ k Nông của ông L chuyển nhượng cho vợ chồng ông Lê Nguyễn Ng H1 và bà Trần Thị Thu H2 vào ngày 18/4/2019 không phải do ông Nguyễn Tr ng L ký. Vì vậy, tôi làm đơn khởi kiện và đề nghị Toà án nhân dân huyện Đ k Mil giải quyết cụ thể:

- Tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được ký kết giữa ông Nguyễn Tr ng L với ông Lê Nguyễn Ng H1 và bà Trần Thị Thu H2 do Ủy ban nhân dân thị trấn Đ k Mil chứng thực ngày 18/4/2019, chứng thực số 01, quyển số 01/2019/SCT/HĐ, GĐ đối với quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số C 966310, thửa đất số 78, tờ bản đồ số 07, diện tích 193m2, do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ k Nông cấp ngày 16/11/2018 cho ông Nguyễn Tr ng L là vô hiệu, do đã giả tạo chữ ký của tôi;

- Kiến nghị thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số C 997637, thửa đất số 78, tờ bản đồ số 07, diện tích 193m2, do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ k Nông cấp ngày 24/4/2019 cho ông Lê Nguyễn Ng H1 và bà Trần Thị Thu H2, đất t a lạc tại: Thị trấn Đ k Mil, huyện Đ k Mil, tỉnh Đ k Nông.

- B ơn ông ê N u n Ng H1 và bà r n h hu 2 trình bày: Chúng tôi đăng ký kết hôn năm 2014 đã cung cấp bản sao giấy chứng nhận kết hôn cho Tòa án).

Về nguồn gốc thửa đất số 78, tờ bản đồ số 07, diện tích 193m2, do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ k Nông cấp ngày 24/4/2019 cho ông Lê Nguyễn Ng H1 và bà Trần Thị Thu H2, đất t a lạc tại: Thị trấn Đ k Mil, huyện Đ k Mil, tỉnh Đ k Nông hiện đang tranh chấp theo đơn khởi kiện của ông Nguyễn Tr ng L là do vợ chồng tôi nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Tr ng L năm 2019. Việc thoả thuận chuyển nhượng đất với ông L do bà Bùi Thị Thanh Ng giới thiệu bà Ng là m vợ của tôi , giá thoả thuận chuyển nhượng diện tích đất trên là 450.000.000 đồng, hai bên có lập giấy viết tay (khoảng 4/2019), giấy do ông L viết, do vợ chồng tôi sơ suất nên giấy này hiện đã thất lạc, chúng tôi không lưu giữ nên chưa thể cung cấp cho Toà án nhân dân huyện Đ k Mil được. vợ chồng tôi đã đưa trước cho ông L số tiền 250.000.000 đồng, bên ông L s chịu trách nhiệm nộp thuế và chịu m i chi phí khác để tiến hành làm thủ tục sang tên cho vợ chồng chúng tôi. Khi viết giấy và giao nhận tiền chỉ có vợ chồng chúng tôi và ông L ký giấy tay và giao nhận tiền với nhau, không có ai làm chứng. Khi thoả thuận chuyển nhượng đất chúng tôi không biết diện tích đất 193m2 là của vợ chồng ông L, nếu biết đất đó là của vợ chồng ông L và các con thì chúng tôi s không mua. Sau đó, khoảng một tuần ông L có điện thoại cho vợ chồng tôi ra Ủy ban nhân dân thị trấn Đ k Mil để ký hợp đồng chuyển nhượng đất và tài sản g n liền trên thửa đất số C 966310, thửa đất số 78, tờ bản đồ số 07, diện tích 193m2, do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ k Nông cấp ngày 16/11/2018 cho ông Nguyễn Tr ng L, đất t a lạc tại: Thị trấn Đ k Mil, huyện Đ k Mil, tỉnh Đ k Nông. Theo giá thoả thuận trong hợp đồng chỉ ghi giá là 50.000.000 đồng, anh Hoà cán bộ tư pháp Ủy ban nhân dân thị trấn Đ k Mil là người trực tiếp hướng d n, làm hồ sơ để hai bên ký hợp đồng sang nhượng.

Trước khi thoả thuận chuyển nhượng đất với nhau, chúng tôi có ra xem đất ngoài thực địa, khi chứng thực xong hợp đồng chuyển nhượng ở Ủy ban nhân dân thị trấn Đ k Mil thì ông L chưa tiến hành bàn giao đất ngoài thực địa cho vợ chồng chúng tôi, do không hiểu biết pháp luật nên vợ chồng tôi c ng không yêu cầu ông L phải giao đất ngoài thực địa. Đến khoảng tháng 5/2019, ông L có điện thoại cho vợ chồng tôi ra nhận sổ đỏ, hai bên gặp nhau tại nhà ông L trên thửa đất hai bên đã thoả thuận sang nhượng cho nhau . Tại đây, sau khi kiểm tra sổ đỏ đã đứng tên hai vợ chồng thì chúng tôi đã tiến hành giao đủ cho ông L số tiền 200.000.000 đồng, do hai bên tin tưởng nên chúng tôi không viết giấy tờ gì với nhau, không có ai chứng kiến mà chỉ có ông L và vợ chồng tôi. Chúng tôi có yêu cầu ông L giao đất ngoài thực địa, nhưng ông L bảo để ông d n hết đồ đạc trong nhà nhà xây cấp 4 xong s bàn giao đất, nhưng hiện tại v n chưa giao đất cho vợ chồng tôi.

Đối với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số C 997637, thửa đất số 78, tờ bản đồ số 07, diện tích 193m2, do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ k Nông cấp ngày 24/4/2019 cho ông Lê Nguyễn Ng H1 và bà Trần Thị Thu H2 hiện nay vợ chồng tôi đã thế chấp vay tại Ngân hàng Quốc tế V B – Chi nhánh Buôn Ma Thuột vay số tiền 500.000.000 đồng, đã trả được 150.000.000 đồng, hiện tại còn nợ Ngân hàng 350.000.000 đồng tiền gốc và tiền lãi phát sinh, thì vợ chồng chúng tôi s có trách nhiệm trả toàn bộ khoản nợ cho Ngân hàng TMCP Q, Chi nhánh Đ k L k – Phòng giao dịch Buôn Ma Thuột.

Về nội dung tại Thông báo số 1052/TB-CSĐT ngày 01/11/2021 của Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Đ k Mil thông báo kết quả giải quyết nguồn tin về tội phạm, theo thông báo kết quả giám định thể hiện chữ ký mang tên ông Nguyễn Tr ng L trong hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản g n liền với đất đối với thửa đất số 78, tờ bản đồ số 07, diện tích 193m2, địa chỉ tại Tổ dân phố 9, thị trấn Đ k Mil, huyện Đ k Mil, tỉnh Đ k Nông của ông L chuyển nhượng cho vợ chồng ông Lê Nguyễn Ng H1 và bà Trần Thị Thu H2 vào ngày 18/4/2019 không phải do ông Nguyễn Tr ng L ký, thì vợ chồng tôi không có ý kiến gì, c ng không yêu cầu Toà án nhân dân huyện Đ k Mil tiến hành trưng cầu giám định chữ ký và chữ viết của ông Nguyễn Tr ng L trong hợp đồng. Tuy nhiên, về yêu cầu khởi kiện của ông Nguyên Tr ng L chúng tôi hoàn toàn không đồng ý, đề nghị Toà án nhân dân huyện Đ k Mil tuyên bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Tr ng L.

- Nhữn n ời có quy n l i, n hĩa v liên quan:

Bà Hoàng Th Q (v ông L), anh Nguy n Tr ng H và ch Nguy n Th Hằng Ph (là con của ông L và bà Quê) cùng trình bày: Thống nhất với lời khai và trình bày của ông L và yêu cầu Tòa án tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân thị trấn Đ k Mil đã chứng thực giữa ông Nguyễn Tr ng L với ông Lê Nguyễn Ng H1 và bà Trần Thị Thu H2 là vô hiệu để trả lại quyền sử dụng đất cho ông bà và đề nghị Tòa án giải quyết xét xử v ng mặt trong vụ án trên.

N ời ại diện theo ủy quy n của Ngân hàng TMCP Q, hi nh nh k k – Phòng giao d ch Buôn Ma Thuột là ông Tr n ình h trình bày: Về thủ tục đăng ký hồ sơ thế chấp vay vốn, hồ sơ cấp tín dụng giữa Ngân hàng TMCP Q, Chi nhánh Đ k L k – Phòng giao dịch Buôn Ma Thuột và khách hàng ông Lê Nguyễn Ng H1 và bà Trần Thị Thu H2 là hợp pháp, hợp lệ nên Ngân hàng VIB Buôn Ma Thuột không đồng ý việc hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số C 997637, thửa đất số 78, tờ bản đồ số 07, diện tích 193m2. Ngân hàng chỉ đồng ý hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất khi ông H1 và bà H2 hoàn thành nghĩa vụ trả nợ vay đối với Ngân hàng TMCP Q, Chi nhánh Đ k L k – Phòng giao dịch Buôn Ma Thuột đến ngày 05/9/2022, ông H1 và bà H2 đã thanh toán xong toàn bộ khoản nợ và rút giấy chứng nhận về).

N ời ại diện theo pháp luật của n ph n

n h n

Minh là ông Minh – r ởn

n ph n

n h ng Minh trình bày: Ngày 06/8/2019, Văn phòng Công chứng V Minh V đã tiếp nhận hồ sơ yêu cầu công chứng hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, giữa bên thế chấp là ông ông Lê Nguyễn Ng H1 và bà Trần Thị Thu H2 và bên nhận thế chấp là Ngân hàng TMCP Q, tài sản thế chấp là thửa đất số 78, tờ bản đồ số 07. Sau khi kiểm tra hồ sơ công chứng viên xác định hồ sơ đầy đủ, hợp lệ, người tham gia giao dịch có đầy đủ năng L hành vi dân sự, tài sản không có tranh chấp và không bị kê biên để thi hành án, do đó công chứng viên Văn phòng công chứng đã công chứng chứng nhận hợp đồng theo đúng quy định của pháp luật. Về yêu cầu Tòa án tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông L với ông H1 và bà H2 đối với tài sản là quyền sử dụng đất thì Văn phòng Công chứng V Minh V không có ý kiến gì và đề nghị Tòa án nhân dân huyện Đ k Mil xem xét và xử lý theo đúng quy định của pháp luật. Vì lý do công việc, Văn phòng Công chứng V Minh V xin v ng mặt tại các buổi làm việc c ng như các phiên tòa xét xử của Tòa án nhân dân huyện Đ k Mil.

N ời ại diện theo pháp luật của Ủy ban nhân dân th tr n k Mil là ông Nguy n Quố

ơn trình bày: Ngày 18/4/2019, Ủy ban nhân dân thị trấn Đ k Mil đã tiến hành chứng thực hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được ký kết giữa ông Nguyễn Tr ng L với ông Lê Nguyễn Ng H1 và bà Trần Thị Thu H2, số chứng thực 01, quyển số 01/2019/SCT/HĐ, GĐ đối với đất và tài sản g n liền trên thửa đất số C 966310, thửa đất số 78, tờ bản đồ số 07, diện tích 193m2, do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ k Nông cấp ngày 16/11/2018 cho ông Nguyễn Tr ng L, đất t a lạc tại: Thị trấn Đ k Mil, huyện Đ k Mil, tỉnh Đ k Nông. Ngày 01/11/2021, Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Đ k Mil thông báo kết quả giải quyết nguồn tin về tội phạm, theo thông báo kết quả giám định số 1052/TB-CSĐT thể hiện chữ ký mang tên ông Nguyễn Tr ng L trong hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản g n liền với đất đối với thửa đất số 78, tờ bản đồ số 07, diện tích 193m2, địa chỉ tại Tổ dân phố 9, thị trấn Đ k Mil, huyện Đ k Mil, tỉnh Đ k Nông của ông L chuyển nhượng cho vợ chồng ông Lê Nguyễn Ng H1 và bà Trần Thị Thu H2 vào ngày 18/4/2019 không phải do ông Nguyễn Tr ng L ký, thì Ủy ban nhân dân thị trấn Đ k Mil không có ý kiến gì về kết quả giám định. Vì vậy, đối với yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Tr ng L thì Ủy ban nhân dân thị trấn Đ k Mil không có ý kiến gì và đề nghị Tòa án tiến hành giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Tại phiên toà, nguyên đơn xin rút yêu cầu kiến nghị thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông H1 và bà H2; v n giữ nguyên yêu cầu về việc đề nghị Tòa án tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được ký kết giữa ông Nguyễn Tr ng L với ông Lê Nguyễn Ng H1 và bà Trần Thị Thu H2 là vô hiệu, do đã giả tạo chữ ký của ông L.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ k Mil phát biểu ý kiến:

- Về người tham gia tố tụng và thu thập chứng cứ: Toà án xác định đúng người tham gia tố tụng, thu thập chứng cứ, cấp tống đạt văn bản tố tụng cho những người tham gia tố tụng, chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật.

- Tại phiên toà sơ thẩm, Hội đồng xét xử đã chấp hành đầy đủ đảm bảo đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, đương sự đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình.

- Về nội dung: Sau khi phân tích, đánh giá các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, kết quả xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 116, Điều 117, Điều 123, Điều 131, Điều 133, Điều 500 của Bộ luật dân sự 2015, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản g n liền với đất ngày 18/4/2019 giữa ông Nguyễn Tr ng L và ông Lê Nguyễn Ng H1 và bà Trần Thị Thu H2 đối với thửa đất số 78, tờ bản đồ số 7, diện tích 193m2, toạ lạc tại tổ dân phố 9, thị trấn Đ k Mil, huyện Đ k Mil, tỉnh Đ k Nông theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác g n liền với đất số CO966310 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh Đ k Nông cấp ngày 16/11/2018, số chứng thực 110, quyền số 01 SCT/HĐ,GD vô hiệu; đình chỉ xét xử đối với yêu cầu của ông L về việc yêu cầu kiến nghị thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông H1 và bà H2.

Về án phí: áp dụng điểm a khoản 2 Điều 27 Nghị quyết 326/NQ – UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án, buộc ông Lê Nguyễn Ng H1 và bà Trần Thị Thu H2 phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Về chi phí tố tụng: Áp dụng Điều 157 của Bộ luật tố tụng dân sự, buộc ông H1 và bà H2 phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ.

NH N NH ỦA A ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, kết quả xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng:

[1.1]. Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn yêu cầu Tòa án tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được ký kết giữa ông Nguyễn Tr ng L với ông Lê Nguyễn Ng H1 và bà Trần Thị Thu H2 vô hiệu. Do đó, xác định tranh chấp giữa các đương sự là "Tranh ch p h p ng chuy n nh ng quy n s d n

t " được quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; bị đơn hiện cư trú tại xã Đức M, huyện Đ k Mil, tỉnh Đ k Nông nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đ k Mil theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[1.2]. Về sự v ng mặt của ông Lê Nguyễn Ng H1 và bà Trần Thị Thu H2: Tòa án nhân dân huyện Đ k Mil đã tống đạt văn bản tố tụng hợp lệ nhưng cả ông H1 và bà H2 v n v ng mặt không có lý do, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử v ng mặt bị đơn theo quy định.

[2]. Về nội dung khởi kiện của ông Nguyễn Tr ng L đề nghị Tòa án tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu, Hội đồng xét xử xét thấy:

[2.1]. Theo lời khai của ông L thì: khoảng tháng đầu tháng 11/2018, để vay được tiền Ngân hàng tôi nhờ bà Ng liên hệ làm thủ tục để một mình tôi đứng tên trong sổ đỏ vay tiền cho thuận tiện. Sau đó, bà Ng đã báo và cho tôi xem tôi đã được cấp 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số C 966310, thửa đất số 78, tờ bản đồ số 07, diện tích 193m2, do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ k Nông cấp ngày 16/11/2018 đứng tên ông Nguyễn Tr ng L, đất t a lạc tại: Thị trấn Đ k Mil, huyện Đ k Mil, tỉnh Đ k Nông. Thực tế, tôi không được giữ sổ đỏ trên mà do bà Ng giữ, tôi c ng không dùng sổ đỏ đã được cấp đứng tên của mình để thế chấp vay tại bất k Ngân hàng nào trong nước. Về lý do vì sao thửa đất số 78, tờ bản đồ số 07, diện tích 193m2, do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ k Nông cấp ngày 24/4/2019 cho ông Lê Nguyễn Ng H1 và bà Trần Thị Thu H2, đất t a lạc tại: Thị trấn Đ k Mil, huyện Đ k Mil, tỉnh Đ k Nông hiện đang tranh chấp theo đơn khởi kiện của tôi thì tôi hoàn toàn không biết. Ông L còn khẳng định, thực tế từ trước tới nay tôi c ng không gặp, thoả thuận và ra U ban nhân dân thị trấn Đ k Mil để chứng thực hợp đồng chuyển nhượng đất và tài sản trên đất đối với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số C 966310, thửa đất số 78, tờ bản đồ số 07, diện tích 193m2, do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ k Nông cấp ngày 16/11/2018 đứng tên ông Nguyễn Tr ng L cho vợ chồng ông Lê Nguyễn Ng H1 và bà Trần Thị Thu H2. Như vậy, lời khai của ông hoàn toàn phù hợp với Thông báo số 1052/TB-CSĐT ngày 01/11/2021 của Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Đ k Mil thông báo kết quả giải quyết nguồn tin về tội phạm, theo thông báo kết quả giám định thể hiện chữ ký mang tên ông Nguyễn Tr ng L trong hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản g n liền với đất đối với thửa đất số 78, tờ bản đồ số 07, diện tích 193m2, địa chỉ tại Tổ dân phố 9, thị trấn Đ k Mil, huyện Đ k Mil, tỉnh Đ k Nông của ông L chuyển nhượng cho vợ chồng ông Lê Nguyễn Ng H1 và bà Trần Thị Thu H2 vào ngày 18/4/2019 không phải do ông Nguyễn Tr ng L ký.

[2.2]. Lời khai của bị đơn ông H1 và bà H2 cho rằng: đối với thửa đất hiện đang tranh chấp theo đơn khởi kiện của ông L là do vợ chồng tôi nhận chuyển nhượng của ông L năm 2019, giá thoả thuận chuyển nhượng là 450.000.000 đồng, hai bên có lập giấy viết tay, giấy do ông L viết khoảng 4/2019), do vợ chồng tôi sơ suất nên giấy này hiện đã thất lạc, chúng tôi không lưu giữ nên chưa thể cung cấp cho Toà án nhân dân huyện Đ k Mil được, vợ chồng tôi đã đưa trước cho ông L số tiền 250.000.000 đồng, chỉ có vợ chồng chúng tôi và ông L ký giấy tay và giao nhận tiền với nhau, không có ai làm chứng. Sau đó, khoảng một tuần ông L có điện thoại cho vợ chồng tôi ra Ủy ban nhân dân thị trấn Đ k Mil để ký hợp đồng chuyển nhượng đất và tài sản g n liền trên thửa đất số C 966310, thửa đất số 78, tờ bản đồ số 07, diện tích 193m2, do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ k Nông cấp ngày 16/11/2018 đứng tên Nguyễn Tr ng L, đất t a lạc tại: Thị trấn Đ k Mil, huyện Đ k Mil, tỉnh Đ k Nông. Theo giá thoả thuận trong hợp đồng chỉ ghi giá là 50.000.000 đồng, hai bên đã ký hợp đồng sang nhượng và hợp đồng đã được Ủy ban nhân dân thị trấn Đ k Mil chứng thực.

Trước khi thoả thuận chuyển nhượng đất với nhau, chúng tôi có ra xem đất ngoài thực địa, hiện ông L chưa tiến hành bàn giao đất ngoài thực địa cho vợ chồng chúng tôi, do không hiểu biết pháp luật nên vợ chồng tôi c ng không yêu cầu ông L phải giao đất ngoài thực địa. Đến khoảng tháng 5/2019, ông L có điện thoại cho vợ chồng tôi ra nhận sổ đỏ, hai bên gặp nhau tại nhà ông L trên thửa đất hai bên đã thoả thuận sang nhượng cho nhau . Tại đây, sau khi kiểm tra sổ đỏ đã đứng tên hai vợ chồng thì chúng tôi đã giao đủ cho ông L số tiền 200.000.000 đồng, do tin tưởng nên chúng tôi không viết giấy tờ gì với nhau, không có ai chứng kiến mà chỉ có ông L và vợ chồng tôi. Chúng tôi có yêu cầu ông L giao đất ngoài thực địa, nhưng ông L bảo để ông d n hết đồ đạc trong nhà nhà xây cấp 4 xong s bàn giao đất, nhưng hiện tại v n chưa giao đất cho vợ chồng tôi. Tuy nhiên, ngoài lời khai thì ông H1 và bà H2 không cung cấp được bất cứ tài liệu chứng cứ gì để chứng minh cho lời khai của mình là có căn cứ.

Do đó, Hội đồng xét xử có căn cứ xác định ông L không ký vào hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nên không làm phát sinh điều kiện có hiệu L của hợp đồng, vi phạm Điều 117, Điều 118 và Điều 500 của Bộ luật dân sự năm 2015. Việc Ủy ban nhân dân thị trấn Đ k Mil chứng thực hợp đồng không có sự tham gia của ông L, không ký trước mặt người thực hiện chứng thực là vi phạm khoản 2, khoản 3 Điều 36 Nghị định số 23/NĐ-CP ngày 16/02/2016 của Chính phủ về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký, chứng thực hợp đồng, giao dịch.

Điều 117. Điều kiện có hiệu L của giao dịch dân sự

1. Giao d h dân sự ó hiệu L khi ó ủ

i u kiện sau â :

a) hủ th ó n n L ph p luật dân sự, n n L hành vi dân sự phù h p với iao d h dân sự

x lập;

b) hủ th tham ia iao d h dân sự hoàn toàn tự n u ện;

) M í h và nội dun ủa iao d h dân sự kh n vi phạm i u m ủa luật, kh n tr i ạo

xã hội.

2. ình th ủa iao d h dân sự là i u kiện ó hiệu L ủa iao d h dân sự tron tr ờn h p luật ó qu nh.

Điều 118. Mục đích của giao dịch dân sự

M í h ủa iao d h dân sự là l i í h mà hủ th mon muốn ạt

khi x lập iao d h ó.

Điều 500. Hợp đồng về quyền sử dụng đất

p n v qu n s d n

t là sự thỏa thuận iữa

bên, theo ó n ời s d n

t hu n ổi, hu n nh n , ho thuê, ho thuê lại, tặn ho, thế h p, óp vốn qu n s d n t hoặ thự hiện qu n kh theo qu nh ủa uật t ai ho bên kia; bên kia thự hiện qu n, n hĩa v theo h p n với n ời s d n t.

Tại khoản 2, khoản 3 Điều 36 Nghị định số 23/NĐ-CP của Chính phủ quy định:

2. N ời thực hiện ch ng thực ki m tra gi y tờ trong h sơ êu u ch ng thực, nếu h sơ

ủ, tại thời i m ch ng thực các bên tham gia h p ng, giao d ch tự nguyện, minh mẫn và nhận th c, làm chủ

c hành vi của mình thì thực hiện ch ng thực.

3. Các bên tham gia h p ng, giao d ch phải ký tr ớc mặt n ời thực hiện ch ng thự …

[2.3]. Theo biên bản xác minh ngày 08/9/2022 tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai Đ k Mil trả lời như sau: qua kiểm tra hồ sơ và dữ liệu liên quan đến việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số 78, tờ bản đồ số 07, diện tích 193m2 thì đều ghi tên là Trần Thị Thu H2. Tuy nhiên, do sơ suất trong việc in bìa để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đã đánh nhầm là bà Trần Thị Thu H1.

[2.4]. Đối với yêu cầu khởi kiện của ông L kiến nghị thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số C 997637, thửa đất số 78, tờ bản đồ số 07, diện tích 193m2, do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ k Nông cấp ngày 24/4/2019 cho ông Lê Nguyễn Ng H1 và bà Trần Thị Thu H2, đất t a lạc tại: Thị trấn Đ k Mil, huyện Đ k Mil, tỉnh Đ k Nông thì tại phiên tòa, ông L xin rút yêu cầu khởi kiện. Xét thấy, việc xin rút yêu cầu khởi kiện là hoàn toàn tự nguyện, nên Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử đối với các yêu cầu nguyên đơn đã rút, quy định tại khoản 2 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3]. Xét quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ k Mil tại phiên toà là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4]. Từ phân tích và nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Tr ng L, tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản g n liền với đất ngày 18/4/2019 giữa ông Nguyễn Tr ng L với ông Lê Nguyễn Ng H1 và bà Trần Thị Thu H2 đối với thửa đất số 78, tờ bản đồ số 7, diện tích 193m2, toạ lạc tại tổ dân phố 9, thị trấn Đ k Mil, huyện Đ k Mil, tỉnh Đ k Nông theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác g n liền với đất số CO966310 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh Đ k Nông cấp ngày 16/11/2018, số chứng thực 110, quyền số: 01 SCT/HĐ, GD vô hiệu.

[5]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Tr ng L được chấp nhận, nên ông Lê Nguyễn Ng H1 và bà Trần Thị Thu H2 phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho ông Nguyễn Tr ng L 300.000 đồng tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp.

[6]. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Ông Lê Nguyễn Ng H1 và bà Trần Thị Thu H2 phải chịu 2.000.000 đồng, do ông Nguyễn Tr ng L đã nộp tạm ứng nên ông Lê Nguyễn Ng H1 và bà Trần Thị Thu H2 phải hoàn trả cho ông L số tiền 2.000.000 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾ

NH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 116, Điều 117, Điều 118, Điều 123, Điều 131, Điều 133 và Điều 500 của Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 2, khoản 3 Điều 36 Nghị định số 23/NĐ-CP ngày 16/02/2016 của Chính phủ; khoản 3 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của U ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên x :

1. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu kiến nghị thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số C 997637, thửa đất số 78, tờ bản đồ số 07, diện tích 193m2, do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ k Nông cấp ngày 24/4/2019 cho ông Lê Nguyễn Ng H1 và bà Trần Thị Thu H2, đất t a lạc tại: Thị trấn Đ k Mil, huyện Đ k Mil, tỉnh Đ k Nông.

2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Tr ng L, tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản g n liền với đất ngày 18/4/2019 giữa ông Nguyễn Tr ng L với ông Lê Nguyễn Ng H1 và bà Trần Thị Thu H2 đối với thửa đất số 78, tờ bản đồ số 7, diện tích 193m2, toạ lạc tại tổ dân phố 9, thị trấn Đ k Mil, huyện Đ k Mil, tỉnh Đ k Nông theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác g n liền với đất số CO966310 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh Đ k Nông cấp ngày 16/11/2018, số chứng thực 110, quyền số: 01 SCT/HĐ, GD vô hiệu.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Lê Nguyễn Ng H1 và bà Trần Thị Thu H2 phải chịu 300.000 đồng ( a tr m n hìn ng). Hoàn trả cho ông Nguyễn Tr ng L 300.000 đồng ( a tr m n hìn ng) tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai số 0000720 ngày 13/01/2022 tại Cục Thi hành án dân sự huyện Đ k Mil, tỉnh Đ k Nông.

4. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Ông Lê Nguyễn Ng H1 và bà Trần Thị Thu H2 phải chịu 2.000.000 đồng (Hai triệu ng), (do ông Nguyễn Tr ng L đã nộp tạm ứng nên ông Lê Nguyễn Ng H1 và bà Trần Thị Thu H2) phải hoàn trả cho ông Nguyễn Tr ng L số tiền 2.000.000 đồng (Hai triệu ng).

5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn, v ng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan v ng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Tr ờn h p bản n, Qu ết nh

thi hành theo qu nh tại i u 2 uật thi hành n Dân sự thì n ời

thi hành n dân sự, n ời phải thi hành n dân sự ó qu n thỏa thuận thi hành n, qu n êu u thi hành n, tự n u ện thi hành n hoặ b ỡn hế thi hành n theo qu nh tại

i u 6, 7, 7a, 7b và 9 uật thi hành n Dân sự. hời hiệu thi hành n

thự hiện theo qu nh tại i u 30 uật thi hành n dân sự.

Cỡ chữ