- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất — án dân sự — "Trần Xuân T - Nguyễn Nhất D"
- Tòa quyết gì? Kh ng chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ị đơn, gi nguyên các quyết định của ản án dân sự sơ th m số 15/2021/DS-ST ngày 27/9/2021 của Tòa án nhân dân huyện Nam Trực - t nh Nam Định
- Căn cứ chính? Điều 129 Bộ luật Dân sự; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 39/2022/DS-PT Ngày: 10-6-2022 V/v: Tranh chấp Hợp đồng CN quyền sử dụng đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà:
Bà Vũ Thị Mai Hương Các thẩm phán:
Ông Nguyễn Tiến Dũng
Ông Lại V Tùng
- Thư ký phiên toà:
Ông Vũ Hoàng Giang
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định tham gia phiên toà:
Bà Trần Thu Hà - Kiểm sát viên
Ngày 10 tháng 6 năm 2022, tại trụ s , Toà án nhân dân t nh Nam Định t ử ph c th m c ng khai vụ án dân sự thụ lý số 78/2021/TLPT-DS ngày 17 tháng 11 năm 2021 về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”. Do ản án dân sự sơ th m số 15/2021/DS-ST ngày 27/9/2021 của Tòa án nhân dân huyện Nam Trực - t nh Nam Định ị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra t ử số 47/2022/QĐ-PT ngày 05/5/2022 gi a các đương sự: + Nguyên đơn: Anh Trần Xuân T - Sinh năm 1982 Nơi cư tr : Xóm 4 ĐP - xã NM - huyện NT - t nh Nam Định + Bị đơn: 1. Ông Nguyễn Nhất D, sinh năm 1953 2. Bà Nguyễn Thị Y, sinh năm 1957 Nơi cư tr : Xóm 4 ĐP - xã NM - huyện NT - t nh Nam Định
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Luật sư Lê Ngọc V – thuộc Đoàn luật sư t nh Nam Định + Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: 1. Chị Phạm Thị Thu H - Sinh năm 1997 Nơi cư tr : Tổ dân phố SK - thị trấn CL - huyện TN - t nh Nam Định. 2. Ủy an nhân dân ã Nam Mỹ - huyện Nam Trực - t nh Nam Định
- Người đại diện theo pháp luật: Chủ tịch UBND ã Nam Mỹ. + Người kháng cáo: Bị đơn ng Nguyễn Nhất D và bà Nguyễn Thị Y.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn kh i kiện và quá tr nh tham gia tố tụng tại tòa án, nguyên đơn anh Trần Xuân T trình bày: Thông qua mối quan hệ quen iết, anh T iết ông bà D - Y có chuyển nhượng quyền sử dụng đất . Anh T có đến em phần đất nhưng kh ng nắm rõ diện tích cụ thể là ao nhiêu. Sau đó anh đến gặp và hỏi giá. Ông D có nói với anh là giá chuyển nhượng của thị trường là 10 triệu/m2. Phần đất của ng là 103m2 nên có giá là 1.030.000.000 đồng. Sau nhiều lần thỏa thuận ng D đã đồng ý bán cho anh với giá là 910.000.000 đồng. Ngày 10/5/2019, gi a anh và ng D, bà Y đã thống nhất lập V ản có tiêu đề “Giấy đặt cọc tiền mua đất” theo đó phần hướng đất và diện tích đã được thể hiện trong GCNQSDĐ và anh T đặt cọc số tiền là 50.000.000 đồng. Đến ngày 30/5/2019, gi a anh và ng D, bà Y đã thống nhất lập V ản có tiêu đề “Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” theo nội dung V ản này th mảnh đất chuyển nhượng có diện tích là 103m2, số thửa 1509, tờ ản đồ số 3, là loại đất , đã được cấp GCNQSDĐ số X607718, có địa ch tại óm Đồng Tâm, ã Nam Mỹ, huyện Nam Trực, t nh Nam Định. Hai ên đương sự cùng ký vào iên ản và có ác nhận ch ký của óm trư ng ng Nguyễn V T . Sau đó, khi anh thanh toán đủ tiền ng à D, Y mới àn giao GCNQSDĐ cho anh. Hai bên có đo đạc tuy nhiên ng à D, Y đã đo lu n cả phần diện tích đất lưu kh ng của sông Nam Toàn (s ng Giang Tả) nên diện tích vẫn đủ. Sau khi viết hợp đồng tại nhà ông Tú – óm trư ng óm Đồng Tâm anh vào UBND ã Nam Mỹ để in chứng thực. Tuy nhiên, do UBND ã họp muộn nên ng à đã hẹn anh hôm khác đến. Đến hai, a ngày sau anh có đến gặp ng, à có nói toàn người nhà kh ng phải câu nệ ra UBND ã chứng thực n a. Sau đó ng à đưa hợp đồng đã ký tại nhà ông Tú cho anh mang về. Đến đầu tháng 6, theo yêu cầu của anh thì hai bên đến V phòng c ng chứng của Nam Trực để làm thủ tục nhưng do còn thiếu thủ tục tách thửa nên kh ng làm thủ tục chuyển nhượng được. Sau đó yêu cầu hai bên lên V phòng đăng ký QSDĐ để tách thửa, khi anh Tuyên về đo đạc th ng áo cho anh iết đã thiếu diện tích so với GCNQSDĐ v ị trừ đi 30,2m2 khi làm QL 21 đã thu hồi. Anh có hỏi và được iết việc làm đường 21 có thu hồi đất của các hộ dân nhưng ng D, bà Y vẫn cam kết khi làm hợp đồng tại nhà ng T về diện tích đủ như trong GCNQSDĐ. Sau đó anh có cầm GCNQSDĐ lên UBND ã Nam Mỹ gặp anh Đấu là cán ộ địa chính của ã hỏi “việc mua của anh có hợp lệ hay kh ng” Anh Đấu trả lời đ ng là đất của của ng D - bà Y, đất kh ng có tranh chấp, kh ng nằm trong quy hoạch. Anh có hỏi và anh Đấu nói toàn ộ phần đất đó đều giải phóng đền ù để m rộng QL 21. Anh có hỏi lại ng D, bà Y về việc mảnh đất ị thu hồi ao nhiêu nhưng ng à khẳng định vẫn đủ diện tích. Sau khi nhận chuyển nhượng đất nhà ng à D th khoảng 1 tuần sau anh tiến hành ây dựng nhà. Khi ây dựng anh có đo đạc th vẫn đ ng như diện tích ng D nói. Nhưng đến khi làm thủ tục sang tên th mới iết phần diện tích đất ch còn lại là 72,8m2 do đã ị trừ đi 30,2m2 ị thu hồi khi làm đường 21. Hiện nay trên thực tế anh đã ây nhà trên phần đất có diện tích là 72,8m2. Còn phần diện tích còn lại là diện tích lưu kh ng s ng Nam Toàn anh có ây dựng tường ao trên phân đất đó. Ông bà D, Y đã lừa dối đánh lẫn phần đất lưu kh ng của s ng Nam Toàn (Giang Tả) và phần đất của m nh và bán cho nhà anh. Nay anh đề nghị Tòa án c ng nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất gi a anh và vợ chồng ng D bà Y. Buộc ng D bà Y phải trả cho anh số tiền tương đương với phần diện tích còn thiếu là 30.2m2x 8.834.951 đồng = 266.815.000 đồng.
Tại phiên tòa, anh T tiếp tục đề nghị Tòa án c ng nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và ác nhận quyền sử dụng đất đã mua thuộc quyền sử dụng đất của vợ chồng anh. Ngoài ra, anh r t một phần yêu cầu kh i kiện, anh ch đề nghị Tòa án em t uộc ng D, bà Y trả cho anh ½ số tiền tương ứng với phần diện tích đất còn thiếu.
+ Tại ản tự khai và trong quá tr nh tố tụng tại Tòa án, ị đơn ng Nguyễn Nhất D, à Nguyễn Thị Y trình bày: Nguồn gốc phần diện tích đất trong hợp đồng chuyển nhượng là do vợ chồng ông bà nhận chuyển nhượng của ng à Bích Hải từ năm 2004 với diện tích là 103m2. Phần diện tích đất này nằm tại óm 6, th n Đồng Phù, ã Nam Mỹ, huyện Nam Trực, t nh Nam Định. Tại thửa 1509, tờ ản đồ số 3. Vị trí như sau: phía Đ ng giáp QL 21, phía Tây giáp s ng Nam Toàn (Giang Tả), phía Bắc giáp nhà ng Hải, à Bích, phía Nam giáp nhà anh Đạo. Trong quá tr nh sử dụng vợ chồng ông bà kh ng chuyển nhượng hoặc nhận chuyển nhượng phần diện tích đất nào. Vào năm 2009, khi Nhà nước làm đường 21 có thu hồi 30,2 m2 và đền ù cho gia đ nh ông bà. Khoảng tháng 3/2019, anh T đến hỏi mua đất. Ông nói rõ là sổ cũ ghi diện tích là 103 m2. Nhưng đến năm 2009 nhà nước làm đường đã thu hồi hết một ít diện tích còn lại ao nhiêu kh ng nắm được. T kh ng nói g ảo dẫn ra em đất và đi về. Sau nhiều lần em và thỏa thuận. Đến ngày 10/5/2019 gi a vợ chồng ông bà và anh T có viết “Giấy đặt cọc tiền mua đất”. Ông D là người trực tiếp viết giấy theo đó có thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên với diện tích theo GCNQSDĐ. Tại thời điểm đó ng D có trao đổi lại phần đất này đã ị thu hồi và kh ng đủ theo diện tích như GCNQSDĐ nhưng anh T có nói “Ch cứ ghi theo GCNQSDĐ cho cháu”. V tin lời của T nên ông đã ghi vào V ản trên. Hai bên thống nhất giá chuyển nhượng phần đất này là 910.000.000 đồng. Số tiền T đặt cọc là 50.000.000 đồng. Sau 3 lần anh T đã thanh toán hết cho ông bà số tiền theo thỏa thuận. Phần đất này anh T đã đi lại và em rất nhiều lần. Đến ngày 30/5/2019 gi a hai bên thống nhất lập một V ản có tiêu đề “Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” Theo V ản này th mảnh đất có diện tích là 103m2 số thửa 1509, tờ ản đồ số 3. Việc ghi như vậy theo yêu cầu của T. V ản này sau khi anh T làm nhà ong mới cùng vợ chồng ông vào in ác nhận của Trư ng th n là ng Nguyễn V Tú. Sau khi ký vào V ản có tiêu đề “hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” khoảng 1 tháng sau hai bên có lên Trung tâm hành chính một cửa huyện Nam Trực để làm thủ tục chuyển nhượng theo quy định của pháp luật. Tại đây, có gặp chị Nga hai bên có tr nh ày về việc ị thu hồi đất cần làm thủ tục nên chị Nga nói sẽ cử cán ộ uống đo đạc cho chính ác số liệu. Khoảng vài ngày sau, anh Tuyên có uống đo đạc khi đó có cả ng D và anh T cầm thước k o gi p. Ông D có nói với anh T “diện tích còn lại như vậy tùy cháu có lấy hay kh ng nh ” T kh ng nói g . Do khi chuyển nhượng chưa được óc tách nên anh Tuyên có nói với t i đi in ản sao GCNQSDĐ của hai hộ liền kề. Gia đ nh ng à đưa hai GCNQSDĐ cho anh T nhưng anh T nói chưa có tiền để làm sau. Khoảng 10 ngày sau thì anh T tiến hành ây dựng nhà. Tại thời điểm đó kh ng có tranh chấp g . V khi mua thỏa thuận anh T tự làm thủ tục sang tên nên ng à kh ng có ý kiến g n a. Khi tiến hành đo đất có sự chứng kiến của hai hộ hai ên. Nay anh T đề nghị trả lại phần đất còn thiếu theo thỏa thuận của hợp đồng là 30, 2m2 tương đương với giá chuyển nhượng là 266.845.000 đồng. Quan điểm vợ chồng t i kh ng nhất trí v ch ng t i thỏa thuận chuyển nhượng là mảnh đất và có th ng áo về việc thu hồi để GPMB làm đường 21B đồng thời anh T đã chứng kiến việc đo đạc của anh Tuyên iết rõ diện tích cụ thể trước khi chuyển nhượng. Đồng thời tại thời điểm đó giá trị chuyển nhượng là 15.000.000 đồng/ m2. Nên diện tích còn lại của vợ chồng t i chuyển nhượng là rẻ hơn so với thị trường. Do đó, ch ng t i kh ng nhất trí yêu cầu kh i kiện nếu kh ng th ch ng t i sẽ trả lại tiền và T trả lại đất cho ch ng t i.
Kết quả thu thập chứng cứ của Tòa án tại Ủy an nhân dân ã Nam Mỹ như sau: Phần diện tích đất trong hợp đồng chuyển nhượng đang có tranh chấp theo tài liệu địa chính phần đất này đã được cấp GCNQSD mang tên hộ à Nguyễn Thị Y vào năm 2004. Phần đất này là đất nằm tại thửa số 1509 tờ ản đồ số 3 với diện tích là 103m2 có vị trí như sau: phía Đ ng Bắc giáp QL 21, phía Tây Nam giáp s ng Giang Tả (An Lá 11); phía Đ ng Nam giáp hộ ng Vương và phía Tây ắc giáp hộ ng Hải. Theo tài liệu GPMB QL 21 th phần diện tích đất nhà à Y ị thu hồi là 39,2 m2. Phần đất còn lại là 63,8 m2. Việc hai ên chuyển nhượng quyền sử dụng đất như thế nào UBND ã kh ng nắm được. Hiện nay, anh T đang sử dụng có lấn sang phần đất hành lang ảo vệ s ng Giang Tả (An Lá 11), UBND ã đang em t kh ng yêu cầu Tòa án giải quyết đối với phần đất này. V lý do ận c ng việc nên UBND ã đề nghị giải quyết vắng mặt.
Kết quả thu thập chứng cứ của Tòa án tại Phòng tài chính kế hoạch huyện Nam Trực như sau: Theo phương án ồi thường (hỗ trợ) đất đai, hoa màu, mặt nước (NTTS) ngày 22/10/2009 của Hội đồng BTGPMB QL 21.1 huyện Nam Trực đối với hộ à Nguyễn Thị Y cho thấy phần diện tích đất ị thu hồi là 39,2m2.
Từ nội dung vụ án như trên, tại ản án dân sự sơ th m số 15/2021/DS-ST ngày 27/9/2021 của Tòa án nhân dân huyện Nam Trực - t nh Nam Định, đã quyết định:
Căn cứ Điều 129, Điều 221, Điều 223, Điều 430, Điều 437, Điều 500, Điều 502 Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 3 Điều 167 Luật đất đai; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy an thường vụ Quốc hội.
1. Chấp nhận yêu cầu kh i kiện của anh Trần Xuân T: C ng nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất gi a anh Trần Xuân T có vợ là chị Phạm Thị Thu H và ng Nguyễn Xuân D có vợ là à Nguyễn Thị Y đối với phần đất có diện tích là 63,8 m2 nằm tại thửa 1509, tờ ản đồ số 3
2. C ng nhận phần đất với diện tích là 63,8 m2 nằm tại thửa 1509, tờ ản đồ số 3 thuộc quyền sử dụng của anh T, chị H. Phần diện tích đất này có vị trí như sau: phía Tây Bắc giáp đất ng Hải có chiều dài là 12,6m, phía Đ ng Nam giáp đất ng Vượng có chiều dài là 11,75 m, phía Đ ng Bắc giáp QL 21 B có chiều dài 5,1 m; phía Tây Nam giáp sông Giang Tả (An Lá) 11 có chiều dài 5,4 m(Có sơ đồ kèm theo).
3. Về nghĩa vụ ồi thường: Chấp nhận sự tự nguyện của anh T uộc ng Nguyễn Xuân D và vợ là à Nguyễn Thị Y có nghĩa vụ liên đới ồi thường cho anh Trần Xuân T có vợ là chị Phạm Thị H Thu số tiền là 133.407.000 đồng (Một trăm a mươi a triệu, ốn trăm linh ảy ngh n đồng).
4. Kiến nghị cơ quan Nhà nước có th m quyền thu hồi GCNQSDĐ mang tên hộ à Nguyễn Thị Y.
Các đương sự liên hệ với cơ quan Nhà nước có th m quyền để làm thủ tục cấp GCNQSDĐ cho phù hợp với quyết định của ản án.
5. Nghĩa vụ thi hành án: Kể từ ngày ản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động thi hành án) hoặc kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án cho đến khi thi hành ong tất cả các khoản tiền, hàng tháng ên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.
6. Về án phí dân sự sơ th m: Hoàn trả cho anh T số tiền tạm ứng án phí 6.750.000 đồng đã nộp theo iên lai số 0000433 ngày 12/4/2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nam Trực, t nh Nam Định. Miễn án phí cho ng D, bà Y.
Ngoài ra, ản án sơ th m còn tuyên án phí, quyền kháng cáo của các đương sự.
- Ngày 08/10/2021, ị đơn ng Nguyễn Nhất D và à Nguyễn Thị Y có đơn kháng cáo với nội dung: Kh ng nhất trí với quyết định của ản án sơ th m, đề nghị TAND t nh Nam Định ử ph c th m ác một phần yêu cầu kh i kiện của nguyên đơn về việc uộc ng à D - Y phải ồi thường cho anh Trần Xuân T số tiền 133.407.000 đồng.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Bị đơn vẫn gi nguyên nội dung kháng cáo, nguyên đơn vẫn gi nguyên yêu cầu kh i kiện; các đương sự kh ng thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Bị đơn à Nguyễn Thị Y tr nh ày: Kh ng nhất trí với yêu cầu kh i kiện của anh T, v vợ chồng à án thửa đất số 1509, chứ kh ng nói án diện tích đất 103 m2, trước khi án đã nói với anh T em kỹ mảnh đất rồi hãy mua, khi mua ong giục anh T đi làm sổ đỏ th anh T lại ảo vay hộ 100 triệu đồng để lấy tiền làm sổ đỏ, sau đó anh T lại ảo chưa có tiền nên chưa làm a đỏ. Vợ chồng à có dẫn anh T đến phòng c ng chứng Ngọc Ban, rồi đến phòng c ng chứng Thoa-Bính để làm thủ tục tách thửa đất, huyện có cử anh Tuyên đến đo đất, l c đó đo diện tích đất là 96,5 m2, anh T vẫn mua đất và làm nhà, sau đó anh T lại kh i kiện vợ chồng à ra tòa, nên à kh ng nhất trí yêu cầu ồi thường tiền cho anh T.
Bị đơn ng Nguyễn Nhất D tr nh ày: Vợ chồng anh T là người địa phương nên khi mua đất đã t m hiểu rất kỹ mảnh đất của ng à. Khi viết giấy mua án đất ng có ảo phải ra ã ác nhận th anh T lại ảo kh ng cần v toàn người quen iết nhau. Khi viết giấy mua án ng có nói diện tích đất đã ị thu hồi 39,2 m2 nhưng anh T ảo cứ ghi 103 m2, giá thửa đất l c đó là 01 tỷ nhưng do anh T làm thủ tục sang tên nên ng à ch lấy anh T 910 triệu đồng. Ông kh ng nhất trí yêu cầu kh i kiện đòi ồi thường tiền của anh T.
Nguyên đơn anh Trần Xuân T tr nh ày: Kh ng nhất trí yêu cầu kháng cáo của ông bà D – Y v : Khi làm thủ tục mua án đất ng à Y – D không nói cho anh T iết thửa đất số 1509 đã ị Nhà nước thu hồi 39,2 m2 để làm đường, người viết giấy mua án đất là ng D, vẫn ghi án cho anh T diện tích đất là 103 m2, giấy mua án đất có ch ký của các ên và có ác nhận của óm trư ng, giá đất tại thời điểm mua án là 10 triệu đống/1 m2, ông bà Y – D thỏa thuận án cho anh T giá là 910 triệu đồng, khi làm thủ tục anh Tuyên trên huyện có uống đo đất nhưng mốc giới do ng D ch , ng D đã ch cả phần đất lưu kh ng của s ng vào diện tích đất án cho anh, v vậy khi đo vẫn đủ, nhưng khi về làm thủ tục trên huyện th mới iết là diện tích thửa đất đã ị lấy 39,2 m2 làm đường, anh T cũng đã đến gặp và nhờ ã hòa giải về việc đất ị thiếu, nhưng ng à D – Y kh ng chịu hoàn lại tiền nên anh đã kh i kiện ra tòa.
- Luật sư ảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ị đơn tr nh ày, tranh luận về yêu cầu kháng cáo của ị đơn như sau: Quan hệ pháp luật trong vụ án là tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, trước khi ký hợp đồng mua án đất th anh T đã t m hiểu rất kỹ về mảnh đất. Quá tr nh mua án đất, hai ên viết giấy mua án đất, có đến V phòng c ng chứng làm thủ tục để tách thửa và sang tên, có đo diện tích đất mua – do anh Tuyên cán ộ trên huyện uống đo và ác định diện tích đất là đủ. Sau khi anh T được iết diện tích đất mua ị thiếu do đã ị thu hồi làm đường nhưng anh T kh ng nói g và cũng kh ng làm thủ tục hủy hợp đồng mua án, mà anh T vẫn tiến hành ây dựng nhà, cho đến tháng 3/2021 anh T mới yêu cầu ng à Y – D hoàn tiền đất ị thiếu. Như vậy anh T iết diện tích ị thiếu so với a đỏ nhưng anh T vẫn mua, v vậy yêu cầu kh i kiện của anh T là kh ng có căn cứ pháp lý, đề nghị Hội đồng t ử chấp nhận kháng cáo của ng à Y – D, sửa lại ản án sơ th m theo hướng ng à Y – D kh ng phải ồi thường tiền cho anh T.
- Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát iểu ý kiến:
Về tố tụng, quá tr nh giải quyết vụ án tại cấp ph c th m, Th m phán và Hội đồng t ử đã tuân theo các quy định pháp luật tố tụng dân sự. Các đương sự chấp hành đ ng các quy định pháp luật tố tụng dân sự, quyền lợi của các đương sự được ảo đảm.
Về nội dung kháng cáo của ị đơn:
X t yêu cầu kháng cáo thấy, ngày 30-5-2019 các đương sự thỏa thuận mua án đất với diện tích là 103 m2, ằng giấy viết tay, có ch ký của các ên. Tuy các đương sự kh ng c ng chứng chứng thực và làm thủ tục sang tên theo quy định của pháp luật, nhưng các ên đã giao nhận đủ tiền, đã nhận đất và ây nhà trên đất, v vậy căn cứ Điều 123 BLDS, cấp sơ th m đã c ng nhận hợp đồng chuyển nhượng quyề sử dụng đất gi a các đương sự là có căn cứ pháp lý.
X t kháng cáo của phía ị đơn thấy, các ên tự nguyện thỏa thuận mua án với diện tích đất ghi trong giấy viết tay là 103 m2 đất, do các ên kh ng làm thủ tục c ng chứng chứng thực, khi giao nhận đất kh ng mời chính quyền địa phương, kh ng ký giáp ranh các thửa đất liền kề, dẫn đến diện tích đất trên thực tế ị thiếu so với thỏa thuận mua án, t lỗi của cả hai ên đều như nhau, v vậy các ên đương sự cùng phải chịu thiệt hại như nhau, căn cứ giá đất khi mua án cấp sơ th m đã ghi nhận yêu cầu của anh T uộc ng à Y – D phải ồi thường cho anh T số tiền 133 triệu đồng là có căn cứ pháp lý. V vậy đề nghị Hội đồng t ử ph c th m căn cứ khoản 1 Điều 308 BLTTDS: Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ị đơn, gi nguyên các quyết định của ản án sơ th m.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được th m tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng t ử nhận định:
Kháng cáo của ị đơn làm trong thời hạn luật định nên được Hội đồng t ử em t theo tr nh tự tố tụng ph c th m.
X t nội dung kháng cáo và các tài liệu chứng cứ do các đương sự uất tr nh tại phiên tòa ph c th m.
Về thủ tục tố tụng: Quá tr nh giải quyết vụ án, cấp sơ th m đã thực hiện đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, kh ng có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, đã ảo đảm được quyền và nghĩa vụ tố tụng của các đương sự trong vụ án.
Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Ngày 30-5-2019, vợ chồng anh Trần Xuân T - Phạm Thị Thu H và vợ chồng ng à Nguyễn Nhất D - Nguyễn Thị Y có thực hiện giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất ằng giấy viết tay mang tiêu đề “Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”, các ên đã thực hiện hiện nghĩa vụ thanh toán và nhận quyền sử dụng đất, tuy nhiên do trên thực tế diện tích đất kh ng đ ng như trong thỏa thuận mua án nên anh T đã kh i kiện yêu cầu ng bà D - Y phải ồi thường hoàn trả lại trị giá diện tích đất ị thiếu so với thỏa thuận mua bán, vì vậy quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án được ác định là “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” – như cấp sơ th m đã ác định là có căn cứ pháp lý.
X t tính hợp pháp của giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
- Về h nh thức của hợp đồng: Giao dịch được lập thành V ản ằng h nh thức viết tay với tiêu đề “Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”, có đầy đủ ch ký của các ên, có ác nhận của óm trư ng, nhưng kh ng c ng chứng chứng thực theo quy định.
- Về nội dung của Hợp đồng: Các ên tự thỏa thuận chuyển nhượng cho nhau quyền sử dụng thửa đất số 1509, tờ ản đồ số 3, loại đất , diện tích 103 m2, đã được cấp GCNQSDĐ số X607718 người đứng tên sử dụng là à Nguyễn Thị Y. Các ên đã thực hiện ong nghĩa vụ thanh toán theo thỏa thuận mua án, anh T đã nhận quyền sử dụng đất và đã tiến hành ây dựng nhà trên đất.
Nhận thấy giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất gi a các ên được thực hiện vào năm 2019, khi Bộ luật dân sự 2015 đang có hiệu lực thi hành; giao dịch có lập thành V ản, nhưng kh ng theo đ ng mẫu Hợp đồng quy định, kh ng c ng chứng chứng thực theo quy định của Luật đất đai, là vi phạm về mặt h nh thức, tuy nhiên t thấy nội dung giao dịch trong hợp đồng kh ng trái đạo đức ã hội, kh ng vi phạm các điều cấm, các ên đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thanh toán, ên mua đã nhận quyền sử dụng đất và đã tiến hành ây nhà trên đất; căn cứ khoản 2 Điều 129 BLDS có căn cứ pháp lý để c ng nhận giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất ằng giấy viết tay tiêu đề “Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” gi a vợ chồng anh Trần Xuân T - Phạm Thị Thu H và vợ chồng ng à Nguyễn Nhất D - Nguyễn Thị Y có hiệu lực.
X t yêu cầu kh i kiện của anh Trần Xuân T uộc ng à D - Y phải ồi thường hoàn trả lại trị giá diện tích đất ị thiếu so với thỏa thuận mua án. Quá tr nh tố tụng, nhận thấy:
Ông bà D - Y tr nh ày khi thỏa thuận mua án có nói rõ cho vợ chồng anh chị T – H iết về việc khi giải tỏa làm đường chính quyền địa phương đã thu hồi 39,2 m2 của thửa đất số 1509 nhưng anh T vẫn đồng ý thỏa thuận mua án với diện tích đất còn lại; ng à D – Y ác nhận đã nhận đầy đủ tiền ồi thường từ chính quyền địa phương về diện tích đất ị thu hồi.
Anh Trần Xuân T trình ày khi thỏa thuận mua án, ng à D – Y không nói về việc khi giải tỏa làm đường chính quyền địa phương đã thu hồi lấy 39,2 m2 của thửa đất số 1509 nên anh T kh ng iết.
Ngoài lời tr nh ày th các ên kh ng đưa ra được chứng cứ pháp lý nào thể hiện về việc khi thỏa thuận mua án ng à D - Y có nói hay kh ng nói về việc thửa đất số 1509 đã ị chính quyền địa phương thu hồi 39,2 m2 để làm đường giao th ng.
Nhận thấy, các đương sự khi thực hiện giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất ằng giấy viết tay, không c ng chứng chứng thực, trong giấy ghi rõ diện tích đất giao dịch chuyển nhượng là 103 m2; khi tiến hành àn giao tài sản giao dịch là quyền sử dụng thửa đất số 1509, tờ ản đồ số 3, các ên kh ng th ng qua chính quyền địa phương để ác định mốc giới cụ thể, kh ng thực hiện việc ký giáp ranh các hộ liền kề; dẫn đến diện tích đất trên thực tế kh ng đ ng như thỏa thuận đã mua án. Như vậy, trong việc giao dịch dân sự nói trên do các ên đã kh ng tuân thủ các quy định của pháp luật hiện hành về việc giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất, dẫn đến hậu quả diện tích đất trên thực tế kh ng đ ng với diện tích đất đã thỏa thuận giao dịch. X t lỗi là của cả hai ên, v vậy các ên đều phải chịu một phần thiệt hại theo tỷ lệ 50/50.
Khi giải quyết yêu cầu ồi thường thiệt hại về diện tích đất ị thiếu hụt, cấp sơ th m đã lấy giá đất khi các đương sự mua án để em t, nhận thấy việc cấp sơ th m áp dụng giá đất khi mua án để em t thiệt hại là có lợi cho các ên đương sự, các đương sự cũng kh ng có ý kiến về việc giá đất đã áp dụng, nên Hội đồng t ử ph c th m ác định tổng trị giá thiệt hại là 30,2 m2 8.834.951 đồng = 266.815.000 đồng. Chia phần mỗi ên đương sự phải chịu lỗi thiệt hại theo tỷ lệ 50/50 theo trị giá tương đương là 133.407.500 đồng. Cấp sơ th m đã chấp nhận sự tự nguyện của anh Trần Xuân T để uộc ng à D - Y phải ồi thường cho anh T số tiền 133.407.000 đồng là phù hợp.
Kháng cáo của ng à Nguyễn Nhất D - Nguyễn Thị Y cũng như lời tr nh ày của Luật sư ảo vệ quyền và lợi ích cho ng à D - Y tại phiên tòa ph c th m, đều kh ng có căn cứ pháp lý, nên kh ng được chấp nhận.
Do ng Nguyễn Nhất D và à Nguyễn Thị Y đều đã trên 60 tuổi, thuộc diện người cao tuổi nên được miễn án phí dân sự ph c th m theo quy định.
Các quyết định khác của ản án sơ th m kh ng có kháng cáo - kháng nghị, Hội đồng ph c th m kh ng em t.
V các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 BLTTDS; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy an thường vụ Quốc hội:
2. Kh ng chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ị đơn, gi nguyên các quyết định của ản án dân sự sơ th m số 15/2021/DS-ST ngày 27/9/2021 của Tòa án nhân dân huyện Nam Trực - t nh Nam Định
3. Miễn án phí dân sự ph c th m cho ông Nguyễn Nhất D và à Nguyễn Thị Y.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự th người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án ph c th m có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| Nơi nhận: - VKSND t nh NĐ - TAND, VKSND huyện Nam Trực; - Chi cục THADS huyện Nam Trực; - Các đương sự; - Lưu HS, tòa DS. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thị Mai Hương |