vanban.org

Bản án 39/2021/HSST — Hình sự

TAND TP. Phan Rang-Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận Tuyên án 09/03/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đức L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đức L (09) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 18 (Mười tám) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 09/03/2021). Trong thời gian thử thách, giao bị cáo Nguyễn Đức L cho Ủy ban nhân dân phường V, thành phố P, tỉnh Ninh Thuận để giám sát, giáo dục. Trường … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đức L phạm tội “Trộm cắp tài sản” - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đức L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TP. PHAN RANG - THÁP CHÀM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH NINH THUẬN
Bản án số: 39/2021/HSST
Ngày 09/03/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG – THÁP CHÀM

TỈNH NINH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Thị Hồng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1.Ông Mai Tuấn.

2.Ông Trần Văn Bình.

- Thư ký phiên tòa: Bà Châu Nguyễn Đoan Trang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố P.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố P tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Đạo - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 03 năm 2021, tại Hội trường xử án Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Ninh Thuận, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 185/2020/HSST ngày 31 tháng 12 năm 2020 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2021/QĐXXST-HS ngày 09/02/2021 và quyết định hoãn phiên tòa số 06/QĐHPT ngày 23/02/2021 và đối với bị cáo:

NGUYỄN ĐỨC L; Tên gọi khác: C,

Sinh năm: 1979; Tại Ninh Thuận; Giới tính: Nam.

Nơi cư trú: Khu phố 3, phường V, thành phố P, tỉnh Ninh Thuận;

Nghề nghiệp: làm thuê; Trình độ văn hoá: 09/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Thành C; sinh năm 1957 và bà Nguyễn Thị K, sinh năm 1956. Có vợ tên Nguyễn Thị N, sinh năm 1981; có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2003, nhỏ nhất sinh năm 2005 (Đã chết ngày 17/11/2020).

Anh, chị em ruột: Có 06 người (bị cáo là con thứ ba trong gia đình).

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 04/08/2016, bị Công an thành phố P xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc với số tiền: 1.500.000đ. Bị cáo đã nộp phạt xong vào ngày 05/8/2016.

Bị cáo hiện đang tại ngoại. (bị cáo có mặt tại phiên tòa).

Người bị hại:

Bà Dương Thị L, sinh năm 1947 (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

Nơi cư trú: Khu phố 3, phường Đ, thành phố P, tỉnh Ninh Thuận.

Người làm chứng:

Chị Hoàng Nguyễn Duy T, sinh năm 1982 (Vắng mặt) .

Địa chỉ: Khu phố 6, phường T, thành phố P, tỉnh Ninh Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Đức L là nhân viên của cửa hàng phân thuốc bảo vệ thực vật Dương Minh C, địa chỉ: Số 2, đường T, thuộc phường Đ, thành phố P do bà Dương Thị L (sinh năm: 1947, trú tại: Khu phố 3, phường Đ) làm chủ. Khoảng 11 giờ ngày 20/10/2019, lợi dụng lúc không có người ở cửa hàng nên Nguyễn Đức L nảy sinh ý định trộm cắp tài sản bán để lấy tiền tiêu xài, Nguyễn Đức L đi vào bên trong kho thuốc lấy 01 thùng thuốc trừ sâu hiệu Antracol (loại 100 gói) còn nguyên vẹn, mở băng keo niêm phong dán trên thùng, rồi lấy 30 chai thuốc trừ sâu hiệu Push, 100 chai thuốc trừ sâu hiệu Tatcher bỏ vào thùng thuốc Antracol trên, dán băng keo lại. Do đã có sự bàn bạc giữa Nguyễn Đức L và Lê T (sinh năm: 1975, trú tại: Khu phố 2, phường K) từ trước là khi nào lấy được thuốc thì Nguyễn Đức L sẽ gọi điện thoại cho Lê T đến mua 01 thùng thuốc và mang số thuốc cất giấu trong thùng đi bán. Đến khoảng 12 giờ cùng ngày, Nguyễn Đức L gọi điện thoại cho Lê T đến cửa hàng Dương Minh C. Đúng như đã hẹn, Lê T và một người (Chưa rõ nhân thân lai lịch) đến cửa hàng gặp bà Dương Thị L mua 01 thùng thuốc trừ sâu hiệu Antracol đã chuẩn bị sẵn mang ra trước cửa hàng bỏ lên xe của Lê T thì bị bà Dương Thị L phát hiện, kiểm tra nên giữ lại toàn bộ số thuốc nêu trên. Sau khi xảy ra sự việc, bà Dương Thị L đã trình báo cho Cơ quan điều tra mời Nguyễn Đức L làm việc. Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Đức L đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình.

Tại Biên bản định giá tài sản số: 69/BBĐG ngày 27/7/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự TP. Phan Rang - Tháp Chàm, xác định: 30 chai thuốc trừ sâu hiệu Push, trị giá: 2.910.000 đồng; 100 chai thuốc trừ sâu hiệu Tatcher, trị giá: 5.820.000 đồng.Tổng giá trị tài sản định giá là 8.730.000đ (Tám triệu bảy trăm ba mươi nghìn đồng).

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận diễn biến sự việc xảy ra như nội dung cáo trạng đã truy tố.

Bản Cáo trạng số 07/CT-VKSPRTC ngày 29 tháng 12 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận truy tố bị cáo Nguyễn Đức L về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Đức L từ 09 (Chín) đến 12 (Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách theo quy định của pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử tách phần yêu cầu bồi thường giữa bà Dương Thị L và bị cáo Nguyễn Đức L để giải quyết bằng một vụ án dân sự khác nếu các bên có yêu cầu.

Bị cáo không tranh luận.

Bị cáo nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Xét về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Đức L khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng; Biên bản định giá tài sản số: 69/BBĐG ngày 27/7/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự TP. Phan Rang - Tháp Chàm và các chứng cứ khác thu thập tại hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở để xác định bị cáo đã thực hiện hành vi cụ thể như sau: Vào khoảng 12 giờ ngày 20/10/2019, tại cửa hàng thuốc bảo vệ thực vật Dương Minh C, địa chỉ: Số 2, đường T, phường Đ, thành phố P, tỉnh Ninh Thuận, Nguyễn Đức L đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của bà Dương Thị L gồm: 30 chai thuốc trừ sâu hiệu Push; 100 chai thuốc trừ sâu hiệu Tatcher. Tổng trị giá tài sản trộm cắp là 8.730.000đ (Tám triệu bảy trăm ba mươi nghìn đồng).

Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang- Tháp Chàm truy tố bị cáo Nguyễn Đức L về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ.

Hành vi của Nguyễn Đức L đã trực tiếp xâm phạm đến tài sản thuộc quyền sở hữu của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương nên phải xử lý nghiêm khắc nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, bị cáo là người không có tiền án, tiền sự; phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; Người bị hại có yêu cầu xin giảm nhẹ hình phạt và xin cho bị cáo được hưởng án treo nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình và không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo hưởng án treo cũng đủ để răn đe, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.

Ngoài ra, trong quá trình điều tra Nguyễn Đức L còn khai nhận: Trong khoảng thời gian từ tháng 07/2018 đến tháng 9/2019, Nguyễn Đức L đã nhiều lần lấy trộm thuốc trừ sâu tại cửa hàng phân thuốc bảo vệ thực vật Dương Minh C nhưng không nhớ rõ thời gian, số lượng, hiệu thuốc cụ thể. Mặt khác, bà Dương Thị L cũng không có bất cứ hóa đơn, chứng từ nào để xác định được thời gian, số lượng, nhãn hiệu thuốc trừ sâu đã bị mất. Vì vậy, Cơ quan điều tra chưa đủ căn cứ để xem xét xử lý hình sự đối với các lần trộm cắp nêu trên là có cơ sở.

Đối với Lê T là người đã có hành vi trộm cắp thuốc trừ sâu của cửa hàng phân thuốc bảo vệ thực vật Dương Minh C cùng với Nguyễn Đức L. Tuy nhiên, sau khi xảy sự việc Lê T đã bỏ trốn khỏi địa phương, hiện Cơ quan điều tra đã ra thông báo truy tìm, khi nào làm rõ được sẽ xử lý sau là phù hợp.

Đối với người thanh niên đi cùng với Lê T chở thuốc trừ sâu trộm cắp, hiện Cơ quan điều tra chưa xác định nhân lai lịch, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

Về vật chứng vụ án: Bà Dương Thị L đã nhận lại 30 chai thuốc trừ sâu hiệu Push; 100 chai thuốc trừ sâu hiệu Tatcher nên Hội đồng xét xử không xem xét về xử lý vật chứng của vụ án.

Về trách nhiệm dân sự trong vụ án: Bà Dương Thị L đã nhận lại tài sản là 30 chai thuốc trừ sâu hiệu Push; 100 chai thuốc trừ sâu hiệu Tatcher nên Hội đồng xét xử không đề cập tới.

Ngoài ra, trong quá trình điều tra bà Dương Thị L còn có yêu cầu bị cáo Nguyễn Đức L phải bồi thường số tiền: 500.000.000đ (Năm trăm triệu đồng). Bị cáo đã bồi thường cho bà Dương Thị L số tiền: 200.000.000đ, bà Dương Thị L yêu cầu bị cáo tiếp tục bồi thường số tiền 300.000.000đ. Hội đồng xét xử thấy rằng: Yêu cầu bồi thường số tiền 500.000.000đ (Năm trăm triệu đồng) giữa bà Dương Thị L với bị cáo Nguyễn Đức L không thuộc phạm vi xem xét, giải quyết về trách nhiệm dân sự trong vụ án này nên Hội đồng xét xử tách ra để giải quyết bằng một vụ kiện dân sự khác nếu các bên có yêu cầu.

Xét quan điểm của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm tại phiên tòa sơ thẩm về việc định tội, định khung hình phạt, xác định nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo và đề xuất mức án là hoàn toàn tương xứng với tính chất, mức độ hành vi nguy hiểm cho xã hội. Quan điểm về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự là có căn cứ, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Đức L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Do không xem xét, giải quyết về trách nhiệm dân sự nên bị cáo, người bị hại không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 173; Điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 (sữa đổi bổ sung năm 2017); Nghị quyết số 02/2018-HĐTP ngày 15/5/2018 hướng dẫn áp dụng điều 65 Bộ luật hình sự về án treo; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đức L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đức L (09) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 18 (Mười tám) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 09/03/2021).

3. Trong thời gian thử thách, giao bị cáo Nguyễn Đức L cho Ủy ban nhân dân phường V, thành phố P, tỉnh Ninh Thuận để giám sát, giáo dục. Trường hợp thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

4. Về dân sự:

Các bên có quyền khởi kiện yêu cầu bồi thường bằng một vụ kiện dân sự khác.

5. Về án phí:

Bị cáo Nguyễn Đức L phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo Nguyễn Đức L, người bị hại bà Dương Thị L không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Đức L có mặt tại phiên tòa, quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 09/03/2021); vắng mặt người bị hại bà Dương Thị L, quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

(Đã giải thích chế định án treo cho bị cáo Nguyễn Đức L).

Cỡ chữ