vanban.org

Bản án 39/2021/HSST — Hình sự

TAND TP. Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh Tuyên án 02/03/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Cao Đức C phạm tội: "Cướp tài sản".

Xử phạt: Bị cáo Cao Đức C 07 năm (Bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt 06/11/2020. Về xử lý vật chứng: Áp dụng: điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cao Đức C - phạm tội cướp tài sản (điều 168 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Cao Đức C phạm tội: "Cướp tài sản".
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẠ LONG
TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 39 /2021/HSST
Ngày: 02 - 3 - 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Định.

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đức Đích và bà Vũ Thị Thơ.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phùng Hương Giang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long tham gia phiên tòa: Bà Phạm Kim Phượng - Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 3 năm 2021 tại phòng xử án Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 04/2021/TLST-HS ngày 15 tháng 01 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2021/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 02 năm 2021 đối với bị cáo:

Họ và tên: Cao Đức C - Sinh ngày: 11/6/1992, tại tỉnh Phú Thọ;

Nơi cư trú: Thôn B, xã H, huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ;

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Cao Văn G và bà Cao Thị Đ; Vợ con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt ngày 06/11/2020, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh, có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Anh Nguyễn Đức M - sinh năm 1967; Địa chỉ: Tổ 3, khu 3B, phường G, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ ngày 05/11/2020, Cao Đức C đi bộ từ khu vực chợ Cái Dăm, thuộc phường Bãi Cháy, thành phố Hạ Long đến bến xe khách Bãi Cháy để đón xe khách về lán xây dựng của C tại thành phố Uông Bí. Lúc này có anh Nguyễn Đức M làm nghề lái xe ôm điều khiển xe mô tô Honda Wave màu đen trắng bạc, biển kiểm soát (BKS) 14V1-100... mời C đi xe ôm nhiều lần nhưng C từ chối. Sau đó anh M chở 01 khách đi, lúc này do thiếu tiền chi tiêu nên C nảy sinh ý định sẽ thuê anh M chở đến chỗ vắng người rồi cướp xe mô tô và tiền của anh M, nên C chờ anh M quay lại để thực hiện hành vi cướp tài sản. Ngay sau đó, C đi xung quanh nhặt 01 viên đá loại đá lát gạch vỉa hè bị vỡ ra từ tấm đá lớn kích thước khoảng (20x10x05)cm, màu sáng, ở đường cho vào 02 túi bóng đen rồi lấy băng dính quấn bọc lại mang theo làm hung khí để đánh anh M mục đích cướp tài sản. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, anh M đi xe mô tô trên quay lại và đỗ xe ở cổng bến xe khách Bãi Cháy để đón khách thì C đi đến cầm theo viên đá đã được bọc trong túi nilon thuê anh M và nói chở đến chỗ ở số 43, khu Âu Tàu 2, Cảng tàu Tuần Châu thuộc phường Tuần Châu, thành phố Hạ Long, hai bên thỏa thuận giá 70.000đồng, anh M đồng ý, lúc này trong người anh M còn có 400.000 đồng. Khi anh M chở C đến khu vực công trường xây dựng thuộc dự án sân Golf Tuần Châu, phường Tuần Châu, thành phố Hạ Long, thấy không có người đi lại, xung quanh là đầm tôm và biển, anh M hỏi C “Tối như thế này sao mà ở được”, ngay lập tức, C dùng viên đá mang theo đập liên tiếp 02 nhát trúng vào vùng gáy anh M, lúc này anh M đang điều khiển xe mô tô trên thì bị đổ nghiêng sang bên trái, anh M bước sang bên phải thì bị C tiếp tục cầm viên đá trên tay đập 01 nhát trúng vào trán phía bên trái anh M, anh M túm vào tay áo bên phải của C nhưng C giật ra làm viên đá trên tay rơi xuống đất vỡ làm 2 phần rồi bỏ chạy, anh M bị choáng nên không đuổi theo mà hô to “Cướp, cướp”, ngay sau đó, anh M điều khiển xe mô tô về trụ sở Công an phường Tuần Châu, thành phố Hạ Long để trình báo. Đến khoảng 00 giờ 30 phút ngày 06/11/2020, C bị Cơ quan điều tra, Công an thành phố Hạ Long bắt giữ.

Tại bản kết luận giám định thương tích số 709/20/TgT ngày 17/11/2020 của Trung tâm pháp y thuộc Sở y tế tỉnh Quảng Ninh, kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 05% (năm phần trăm). Các tổn thương do vật tày cứng tác động trực tiếp gây nên.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 213/KLĐGTS ngày 11/11/2020 của Hội đồng định giá tài sản thành phố Hạ Long kết luận: Trị giá xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đen trắng bạc, BKS 14V1-100... của anh M tại thời điểm bị xâm phạm là 14.058.000đ (Mười bốn triệu không trăm năm mươi tám nghìn đồng).

Tại cơ quan điều tra Cao Đức C khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung vụ án đã nêu trên, nhưng tại phiên tòa bị cáo lại không thừa nhận hành vi dùng vũ lực ngay tức khắc nhằm chiếm đoạt tài sản của anh M, mà bị cáo chỉ thừa nhận do anh M nhiều lần mời bị cáo đi xe ôm của anh M, bị cáo từ chối không đi, anh M đã có lời nói “Chửi” bị cáo, bị cáo bức xúc nên đã tìm cách thuê xe ôm anh M chở ra chỗ vắng người để trả thù anh M.

Bị hại anh Nguyễn Đức M tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa có lời khai phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với nội dung vụ án. Tại phiên tòa anh M khai: anh không quen biết bị cáo và cũng không có mâu thuẫn gì với bị cáo, ngày 05/11/2020 anh có mời bị cáo đi xe ôm nhiều lần nhưng anh không chửi bị cáo nên việc bị cáo nói anh chửi bị cáo để rồi thuê xe anh chở đến chỗ vắng để đánh anh là không đúng. Khi anh chở bị cáo đến chỗ vắng người anh đã nghi ngờ nên dừng xe định quay đầu thì anh đã bị đánh hai nhát liên tục, do anh không bị ngất và khống chế được bị cáo nên bị cáo mới không cướp được tài sản của anh. Ngoài ra anh M còn khai vào thời điểm đó anh còn mang trong người số tiền là 400.000đồng. Quá trình điều tra anh M đã nhận lại xe mô tô BKS 14V1- 100..., anh không có yêu cầu đề nghị gì về phần bồi thường dân sự, về phần hình phạt: anh đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm được trở về với cộng đồng làm người có ích cho xã hội.

Tại bản Cáo trạng số 08/CT-VKSHL ngày 14/01/2021, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long đã truy tố Cao Đức C về tội “Cướp tài sản” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự;

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long giữ nguyên Cáo trạng truy tố đối với bị cáo về tội: “Cướp tài sản" và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm d khoản 2 Điều 168; Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Cao Đức C từ 07 (Bảy) năm đến 07 (Bảy) năm 6 (Sáu) tháng tù giam, thời hạn tù tính từ ngày bắt 06/11/2020;

Về vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Tại phiên tòa bị cáo chỉ thừa nhận hành vi đánh anh M để đỡ bực tức chứ không có mục đích cướp tài sản như Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố và không tranh luận với luận tội của Kiểm sát viên.

Lời nói sau cùng: Bị cáo không nói lời sau cùng trước khi Hội đồng xét xử nghỉ nghị án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Hạ Long, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi của bị cáo thể hiện: Tại phiên tòa bị cáo không thừa nhận việc đánh anh M mục đích để cướp tài sản của anh M, bị cáo chỉ thừa nhận do anh M mời bị cáo đi xe ôm nhiều lần, bị cáo nói không đi, anh M đã chửi bị cáo nên bị cáo thấy bực tức, bị cáo đã nhặt 01 viên đá lát gạch vỉa hè cho vào túi nilon màu đen rồi thuê xe anh M chở bị cáo đến chỗ vắng người ở Tuần Châu để đánh anh M cho bõ tức. Việc bị cáo khai nhận đánh anh M để mục đích cướp tài sản tại cơ quan điều tra là do cán bộ điều tra ép cung và mớm cung.

Để chứng minh bị cáo có hành vi phạm tội như Viện kiểm sát truy tố hay không cần căn cứ vào các tài liệu chứng cứ sau:

Tại Biên bản nhận dạng ảnh hồi 06 giờ ngày 06/11/2020 (ngay sau khi bị cáo bị bắt), bị cáo viết: “Tôi sau khi quan sát bản ảnh nhận dạng số 2, tôi nhận ra và khẳng định người đàn ông trong ảnh số 2 chính là người lái xe ôm... vào ngày 05/11/2020 tôi đã gọi chở tôi đến khu vực dự án sân golf Tuần Châu và tôi đã dùng viên đá đập chúng vào đầu người đàn ông này mục đích cướp tài sản...” (BL77).

Tại Biên bản ghi lời khai hồi 01 giờ 20 phút ngày 06/11/2020 (ngay sau khi bị bắt) (BL 105- 106), tại các bản tự khai và tại các biên bản ghi lời khai tại cơ quan điều tra (từ BL 107 đến BL 125), bị cáo đều khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung vụ án đã nêu trên. Bị cáo đều thừa nhận: Mục đích của bị cáo là cướp xe mô tô, nếu thuận lợi sẽ cướp cả tiền trong người. Tuy nhiên sau khi đánh nhiều nhát vào người lái xe ôm nhưng người này không ngất hay bị ngã mà còn định giữ bị cáo lại, nên bị cáo sợ hãi bỏ chạy chưa kịp cướp được tài sản gì.

Tại các Biên bản ghi lời khai của bị cáo do Kiểm sát viên tiến hành (BL 112, 113, 126), bị cáo đều khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung vụ án, bị cáo khẳng định lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra là đúng sự thật, do bị cáo tự nguyện khai báo, không thay đổi gì. Tại phiên tòa bị cáo khẳng định Biên bản ghi lời khai do Viện kiểm sát thực hiện là đúng và không có sự mớm cung hay ép cung.

Tại các biên bản giao nhận Kết luận điều tra và Biên bản giao nhận cáo trạng bị cáo cũng không có ý kiến gì.

Tại phiên tòa bị hại anh M khai không có mâu thuẫn gì với bị cáo, anh có mời bị cáo đi xe ôm nhiều lần nhưng anh không chửi bị cáo.

Như vậy kể từ khi bị cáo bị bắt đến trước phiên tòa hôm nay, bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình và không có khiếu nại gì. Do đó khẳng định không có sự ép cung hay mớm cung của cán bộ điều tra, bởi nếu có sự ép cung hay mớm cung của cán bộ điều tra thì khi Kiểm sát viên tiến hành lấy lời khai của bị cáo, bị cáo sẽ thay đổi lời khai, nhưng khi Kiểm sát viên lấy lời khai bị cáo vẫn khẳng định lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra là đúng sự thật và trong suốt quá trình tạm giam bị cáo cũng không có đơn khiếu nại gì. Do vậy lời khai của bị cáo tại phiên tòa là không có căn cứ nên không được chấp nhận.

Từ các chứng cứ nêu trên cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thấy rằng lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra phù hợp với lời khai của bị hại và phù hợp với nội dung vụ án, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 05/11/2020, tại khu vực công trường xây dựng dự án sân Golf Tuần Châu, phường Tuần Châu, TP Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, Cao Đức C có hành vi dùng đá có kích thước (20x10x05)cm đập liên tiếp 02 nhát vào vùng gáy và 01 nhát vào vùng trán phía bên trái của anh Nguyễn Đức M gây thương tích tổn hại 05% sức khỏe nhằm chiếm đoạt chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đen trắng bạc, BKS 14V1-100.34 có trị giá 14.058.000đ. (Mười bốn triệu, không trăm năm mươi tám nghìn đồng) và 400.000đ (Bốn trăm nghìn đồng) của anh Nguyễn Đức M.

Hành vi nêu trên của bị cáo Cao Đức C đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Cướp tài sản” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự, như Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trái pháp luật hình sự, đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản và tính mạng, sức khoẻ của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội và gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Bị cáo là người trưởng thành, nhận thức được hành vi mình thực hiện là vi phạm pháp luật, nhưng đã bất chấp pháp luật, cố ý thực hiện tội phạm, bị cáo không thực hiện được hành vi chiếm đoạt là do bị hại chống trả, tri hô, ngoài ý thức mong muốn của bị cáo. Do đó cần tuyên cho bị cáo một mức án thật nghiêm khắc mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo không thừa nhận hành vi phạm tội của mình nên không được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo được bị hại xin giảm nhẹ một phần hình phạt nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt: Khi lượng hình, cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để thể hiện tính nhân đạo của pháp luật, nhưng dù có xem xét giảm nhẹ hình phạt đến đâu thì việc cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian là cần thiết.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có công ăn việc làm ổn định, không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đối với bị cáo về tội danh, điều khoản truy tố, tình tiết giảm nhẹ và mức hình phạt đề nghị áp dụng là có căn cứ, phù hợp với nội dung của vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đen trắng bạc, BKS 14V1-100... đã trả lại cho người bị hại, nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

- Đối với 02 viên đá có kích thước lần lượt là (13,3x8,5x5) cm và (7,2x5x5)cm; 02 túi nilon màu đen, trong đó có 01 chiếc túi có dán tờ giấy trắng in dòng chữ: Người gửi: Công ty máy tính Minh Nguyên, không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Điểm d khoản 2 Điều 168; khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo C.

Tuyên bố: Bị cáo Cao Đức C phạm tội: "Cướp tài sản".

Xử phạt: Bị cáo Cao Đức C 07 năm (Bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt 06/11/2020.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng: điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy vật chứng là 02 viên đá có kích thước lần lượt là (13,3x8,5x5) cm và (7,2x5x5)cm; 02 túi nilon màu đen, trong đó có 01 chiếc túi có dán tờ giấy trắng in dòng chữ: Người gửi: Công ty máy tính Minh Nguyên.

(Tình trạng như biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 101/BB-THA ngày 23/02/2021 giữa Công an thành phố Hạ Long và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hạ Long).

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Cao Đức C phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn) án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Áp dụng: Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ