vanban.org

Bản án 39/2021/HSST — Hình sự

TAND tỉnh Lào Cai Tuyên án 27/08/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Chảo Ông K phạm tội “Giết người” và tội “Cướp tài sản”

Xử phạt bị cáo Chảo Ông K tù Chung thân về tội “Giết người”. Xử phạt bị cáo Chảo Ông K 04 (Bốn) năm tù về tội “Cướp tài sản”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Chảo Ồng K phạm tội giết người, cướp tài sản - phạm tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật (điều 123 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Chảo Ông K phạm tội “Giết người” và tội “Cướp tài sản”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LÀO CAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 39/2021/HS-ST
Ngày 27/8/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phùng Chí Thiện;

Thẩm phán: Ông Phùng Lâm Hồng.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Thào Thị Tùng, ông Trần Ngọc Đính và ông Nguyễn Ngọc Linh.

Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thu Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Gia Long - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 23 và 27 tháng 8 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 30/2021/TLST-HS ngày 06/7/2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 38/2021/QĐXXST-HS ngày 05/8/2021 đối với bị cáo:

Họ và tên: Chảo Ông K (Tên gọi khác: Vần Tá).

Sinh ngày 19/3/1993 tại xã Thanh Bình, thị xã P, tỉnh Lào Cai.

Nơi cư trú: Thôn K, xã B, thị xã P, tỉnh Lào Cai.

Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 9/12;

Dân tộc: Dao; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam;

Con ông Chảo Xuần P1 và bà Lý Mùi P2

Có vợ là Chảo Cờ M và 02 con, lớn sinh năm 2009, nhỏ sinh năm 2011;

Tiền án: Bản án hình sự sơ thẩm số 22/2019/HSST ngày 11/10/2019 của Tòa án nhân dân huyện P xử phạt 10 tháng tù về 02 tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “Lạm dung tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

Tiền sự: Không.

Nhân thân: Xấu.

Bị bắt tạm giữ từ ngày 03/4/2021, tạm giam từ ngày 06/4/2021, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Lào Cai; Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo:

+ Bà Đỗ Thị Lan O - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Lào Cai; Có mặt.

+ Ông Bùi Xuân D - Văn phòng luật sư U, Đoàn luật sư tỉnh Lào Cai; Vắng mặt.

- Bị hại: Bà Vùi Thị C. Địa chỉ: Thôn M, xã V, huyện X, tỉnh Lào Cai; Đã chết.

- Người đại diện hợp pháp của người bị hại: Anh Vàng Văn Q: Địa chỉ: Thôn M, xã V, huyện X, tỉnh Lào Cai; Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Chảo Xuần P3: Địa chỉ: thôn K, xã B, thị xã P, tỉnh Lào Cai; Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Sáng ngày 02/4/2021, Chảo Ông K đi xe máy biển kiểm soát 24B1 - 622.38 đến xã V, huyện X để tìm nhà có nhu cầu khoan phá đá thuê. Khoảng 09 giờ cùng ngày, K đến khu vực gần nhà anh Vàng Văn Q ở thôn M, K vào nhà chơi và được bà Vùi Thị C, là mẹ đẻ của anh Q, mời uống nước. Qua nói chuyện K biết chỉ có bà C ở nhà một mình trông cháu nhỏ, nên sau khi uống nước xong K chào bà C đi về. Đi được khoảng 300m, K nảy sinh ý định quay lại nhà anh Q để trộm cắp tiền trong ngăn tủ vì trước đó K có khoan phá đá thuê cho nhà anh Q và nhìn thấy vợ anh Q lấy tiền ở đó để trả tiền công cho K.

Khoảng 9 giờ 30 phút, K đi xe máy quay lại nhà anh Q, cách cổng nhà khoảng 20m thì dừng lại, quan sát thấy cửa chính nhà anh Q , cửa bếp mở nhưng không thấy bà C. K đợi khoảng 05 phút không có người qua lại K vào cửa chính nhà anh Q, dùng tay đẩy cửa đi vào trong nhà rồi Kp lại, thấy trong nhà không có người, K đến vị trí ngăn tủ gỗ cửa tủ khóa. Thấy có 01 chiếc kéo sắt treo trên tường cạnh cửa nhà, K lấy kéo cạy cánh cửa tủ, cạy vài lần thì mũi kéo bị gãy và phát ra tiếng động. Bà C mở cửa vào nhà, tay phải bà C cầm 01 con dao nhọn bằng sắt giơ lên hướng về phía K, K đứng dậy, tay phải vẫn cầm theo chiếc kéo, bà C nói “Mày đến nhà chơi nhưng lại ăn trộm như thế này là không được rồi” đồng thời tiến về phía K. K lùi lại vào phía trong, bà C tiến đến tay trái vịn vào cửa phòng, tay phải cầm dao hướng về phía K và nói “Mày phải ở đây để tao gọi cháu”, K nói “Cháu sai rồi, cháu xin lỗi bà” nhưng bà C không đồng ý. Thấy bà C tay cầm dao run run nên K vứt chiếc kéo vào trong khe tường tiến đến lách người khỏi hướng tay cầm dao của bà C đồng thời dùng tay đẩy bà C ngã ngửa ra nền nhà làm con dao rơi ra bên cạnh. Thấy bà C vẫn đang nằm ngửa, đầu ngước lên nhìn K, nghĩ bà C đã nhận ra mình nên K nảy sinh ý định giết bà C. K chạy xuống bếp thì nhìn thấy có 01 đoạn gậy hình tròn dài khoảng 60cm, đường kính khoảng 06cm dạng chiếc chày nằm trên nền bếp nên cầm chạy lên nhà thì thấy bà C đang nằm ở tư thế nằm sấp, hai tay đang chống ngang vai để đứng dậy, đầu bà C ngước lên nhìn K. K tiến đến đứng ngang bên trái đầu bà C, cách khoảng 40cm, tay phải cầm gậy giơ lên ngang vai vụt liên tiếp 03 nhát theo hướng thẳng từ trên xuống dưới vào vùng gáy của bà C. Thấy bà C nằm sấp không cử động, nghĩ bà C đã chết nên K mang bà đi giấu. K ra ngoài cửa quan sát thấy không có người nên quay lại lật bà C nằm ngửa rồi bế bà C xuống bếp, thả vào bể nước xây bằng gạch phía trong bếp cho cơ thể chìm xuống dưới đáy bể. Sau đó K đi lên phòng khách nhặt con dao bà C cầm lúc trước cạy bật cánh tủ ra rồi đút dao vào gầm tủ. Thấy bên trong ngăn tủ có 01 túi ni lon màu trắng có đựng tiền K lấy cho vào túi ngực phía trong của áo khoác đang mặc sau đó nhặt chiếc gậy gỗ mang xuống bếp vứt vào vị trí cũ rồi ra lấy xe máy đi theo hướng xuống xã Bản Vược. Đi được khoảng 2km thì K bị ngã làm xe máy hỏng đèn pha và hộp công tơ mét K vào 01 quán sửa xe máy ở gần vòng xuyến trung tâm xã Bản Vược để sửa xe hết 700.000đ. K lấy 01 tờ tiền 500.000đ của K mang theo và 01 tờ tiền 200.000đ trong số tiền vừa cướp được để trả tiền sửa xe. Sau đó K đi ra thành phố Lào Cai ăn cơm và bỏ số tiền cướp ra đếm còn lại 13.200.000 đồng.

Đến khoảng 14h cùng ngày, K đi xe máy đến số nhà 276, đường Điện Biên Phủ thuộc Tổ 1, phường P, thị xã P để đánh bạc bằng hình thức chơi đặt thú (hay còn gọi là chơi Thỏ - Khỉ). Đến khoảng 23h30' cùng ngày, lực lượng Công an thị trấn P vào lập biên bản kiểm tra. Lúc này trong túi K còn lại số tiền 2.470.000 đồng.

Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 52/GDPY ngày 25/5/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai kết luận:

“1. Các thương tích trên cơ thể Vùi Thị C đều do vật tày gây lên, lực tác động rất mạnh;

2. Nguyên nhân chết: Vùi Thị C tử vong do chấn thương vùng cổ gây gẫy đốt sống cổ 2,3; đứt tủy.

3. Thời gian tử vong: Trong vòng 12 tiếng tính đến thời điểm khám nghiệm.

4. Tử thi Vùi Thị C không có thai”.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về mô bệnh học và độc chất phủ tạng số 2649/C09 - TT1, P4, ngày 06/5/2021 của Viện khoa học hình sự Bộ Công an đối với các mẫu vật gửi đi giám định các mẫu mô của tử thi Vùi Thị C kết luận:

“1. Mô bệnh học: Hình ảnh mô cơ tim xơ hóa nhẹ, xơ cứng tiểu động mạch phổi, viêm thận mạn.

2. Độc chất: Trong mẫu phủ tạng, dịch dạ dày của tử thi Vùi Thị C không tìm thấy các chất độc thường gặp.”

Tại Bản kết luận giám định dấu vết khớp số 2654/C09-P3, ngày 14/5/2021 của Viện khoa học hình sự Bộ Công an đối với mẫu vật gửi đi giám định là chiếc kéo bị gãy một bên mũi và một đầu mũi kéo bị gãy kết luận: “Đầu mũi kéo gửi đi giám định bị gãy ra từ chiếc kéo gửi đi giám định”.

Tại bản kết luận giám định dấu vết cơ học số 32/GĐCH, ngày 31/5/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai kết luận: “Trên cánh tủ gỗ cần giám định có 05 dấu vết công cụ dạng in hằn, trượt xước, ký hiệu dấu vết từ dưới lên là dấu vết số 01 đến 05; Trên khung thành vách ngăn tủ gỗ cần giám định có 05 dấu vết công cụ dạng in hằn, trượt xước, ký hiệu dấu vết từ dưới lên trên là dấu vết số 06 đến số 10.

- Dấu vết số 01 - 06, 02 - 07, 03 - 08, 04 - 09, 05 - 10 có cùng vị trí tương ứng, đối xứng nhau khi ghép cánh tủ vào với khung vách ngăn tủ.

- Dấu vết 01, 04, 05 dạng dấu vết in hằn do vật kim loại có cạnh và đầu nhọn tác động theo hướng từ ngoài vào trong, từ trước về sau.

- Dấu vết số 02 dạng dấu vết in hằn do vật kim loại có cạnh và đầu nhọn tác động theo hướng từ ngoài vào trong, từ trước về sau.

- Dấu vết số 03, 07 và 08 dạng dấu vết trượt xước do vật kim loại có cạnh và đầu nhọn tác động theo hướng từ ngoài vào trong, từ trước về sau.

Bản cáo trạng số 30/CT-VKS-P2 ngày 02/7/2021 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai truy tố bị cáo Chảo Ông K về tội “Giết người” và “Cướp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 123 và khoản 1 Điều 168 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

Bị cáo Chảo Ông K khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung vụ án đã nêu trên và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai giữ quyền công tố phát biểu quan điểm: Giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Chảo Ông K phạm tội “Giết người” và “Cướp tài sản”.

Căn cứ vào điểm g khoản 1 Điều 123; khoản 1 Điều 168; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Chảo Ồng K tù Chung thân về tội “Giết người” và 04 đến 05 năm tù về tội “Cướp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt chung cho cho cả hai tội là tù Chung thân.

Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo với đại diện hợp pháp của bị hại, buộc bị cáo phải bồi thường cho đại diện hợp pháp của bị hại tổng số tiền là 209.050.000 đồng. Xác nhận anh Q là người đại diện của bị hại đã nhận 28.870.000đ, số tiền còn lại buộc bị cáo phải bồi thường là 180.180.000đ.

Đề nghị xử lý vật chứng, tuyên án phí, quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Người bào chữa cho bị cáo bà Đỗ Thị Lan Oanh trình bày ý kiến:

Căn cứ vào điểm g khoản 1 Điều 123; khoản 1 Điều 168; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Chảo Ồng K 20 năm tù về tội “Giết người” và 04 năm tù về tội “Cướp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt chung cho cho cả hai tội là 24 năm tù .

Người bào chữa cho bị cáo ông Bùi Xuân Dũng vắng mặt và gửi bài bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ vào điểm g khoản 1 Điều 123; khoản 1 Điều 168; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Chảo Ồng K mức án 20 năm tù cho cả 02 tội.

Đại diện hợp pháp của bị hại anh Vàng Văn Q trình bày ý kiến:

Đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo phải bồi thường tổng số tiền là 209.050.000đ, bao gồm: Bồi thường tổn thất tinh thần 100.000.000đ, bồi thường tiền mai táng phí 95.650.000đ và số tiền bị cáo đã chiếm đoạt là 13.400.000đ.

Anh Vàng Văn Q xác nhận gia đình bị cáo đã bồi thường cho anh số tiền 26.400.000đ, cơ quan điều tra đã trả lại cho anh 2.470.000đ trong số tiền đã bị cướp. Tổng số tiền anh đã nhận là 28.870.000đ, nay anh yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền còn lại là 180.180.000đ và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bị cáo với mức án là tù Chung thân.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Chảo Xuần Phẩu trình bày ý kiến: Đề nghị Hội đồng xét xử trả lại cho ông Phẩu chiếc xe mô tô nhãn hiệu SUAFT màu đen biển số 24B1-622.38 và không yêu cầu bị cáo K phải hoàn trả lại số tiền mà ông đã bồi thường thay bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh:

Tại phiên tòa bị cáo Chảo Ông K khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận giám định và các chứng cứ, tài liệu khác đã có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, có đủ cơ sở khẳng định:

Ngày 02/4/2021, khi bị cáo Chảo Ông K đang có hành vi trộm cắp tài sản tại nhà anh Q thì bị bà C (mẹ anh Q) phát hiện. Vì sợ bà C sẽ tố giác hành vi trộm cắp tài sản của mình nên bị cáo đã nảy sinh ý định giết bà C. K đẩy bà C ngã ngửa ra nền nhà, rồi dùng 01 đoạn gậy bằng gỗ vụt 03 nhát theo hướng thẳng từ trên xuống dưới vào vùng gáy của bà C, làm bà C tử vong. Sau khi giết bà C, bị cáo đã thả xác bà C vào bể nước xây bằng gạch ở phía trong của bếp cho cơ thể bà C chìm xuống dưới đáy bể, rồi cậy tủ lấy đi số tiền 13.400.000đ của vợ chồng anh Q.

Hành vi nêu trên của bị cáo K đã cấu thành tội “Giết người” với tình tiết định khung là “Để thực hiện hoặc che giấu tội phạm khác” và tội “Cướp tài sản”. Như vậy khẳng định Bản cáo trạng số 30/CT-VKS-P2 ngày 02/7/2021 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai truy tố bị cáo Chảo Ồng K về tội “Giết người” và “Cướp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 123 và khoản 1 Điều 168 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về hình phạt:

Hành vi phạm tội của bị cáo Chảo Ông K là đặc biệt nguy hiểm, trực tiếp xâm phạm đến tính mạng và tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an ở địa phương. Vì vậy phải xử lý bị cáo thật nghiêm khắc trước pháp luật, tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo nhằm giáo dục, cải tạo đối với bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.

Xét về nhân thân, ngày 11/10/2019, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện P (nay là thị xã P) xử phạt 10 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” tại Bản án hình sự sơ thẩm số 22/2019/HSST. Ngày 15/10/2020, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù nhưng chưa được xóa án tích, ngày 02/4/2021, bị cáo tiếp tục thực hiện hành vi giết người và cướp tài sản. Vì vậy, xác định bị cáo có nhân thân xấu và phải chịu tình tiết tăng nặng “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình và bày tỏ thái độ ăn năn hối cải, tác động gia đình bồi thường cho đại diện bị hại một phần tiền mai táng phí và hoàn lại toàn bộ số tiền đã chiếm đoạt là 28.870.000đ. Năm 2014 bị cáo được Chủ tịch UBND xã Thanh Kim, huyện P (nay là thị xã P ) tặng giấy khen vì có thành tích xuất sắc trong phong trào thi đua “Xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh”. Năm 2017, bị cáo góp công cứu anh Chảo Xuần Chẳn, sinh năm 1979, trú tại Bản Kim, xã Thanh Bình, huyện P (nay là thị xã P) nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Đối với hành vi đánh bạc của bị cáo Cháo Ông K tại địa bàn thị xã P, quá trình điều tra xác định ngoài bị cáo còn có một số đối tượng khác cũng tham gia chơi đánh bạc, cùng với đó còn có dấu hiệu tổ chức đánh bạc của chủ cơ sở kinh doanh trò chơi điện tử. Hiện tại, hành vi của các đối tượng này đang được Công an thị xã P xác minh làm rõ để xử lý theo thẩm quyền. Vì vậy, không xem xét xử lý bị cáo về hành vi đánh bạc trong vụ án này là phù hợp.

[4 ] Về trách nhiệm dân sự:

Quá trình điều tra anh Vàng Văn Q yêu cầu bị cáo bồi thường tổng số tiền là 209.050.000đ. Anh Q xác nhận đã nhận lại tổng số tiền là 28.870.000đ (trong đó 2.470.000đ tại cơ quan điều tra và 26.400.000đ của gia đình bị cáo bồi thường). Nay anh Q yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền còn lại là 180.180.000đ. Bị cáo K nhất trí bồi thường số tiền nêu trên.

Vì vậy Hội đồng xét xử xét thấy, cần buộc bị cáo Chảo Ông K phải bồi thường cho đại diện hợp pháp của bị hại anh Vàng Văn Q 180.180.000đ là phù hợp quy định pháp luật.

Về vật chứng

Đối với những vật dụng thu giữ trong quá trình khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, mẫu tóc của Chảo Ông K, 01 bộ quần áo, 01 mũ bảo hiểm thu của bị cáo: là những vật chứng không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu SUFAT màu đen BKS 24B1-622.38: Đây là chiếc xe máy của ông Chảo Xuần P3, không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên cần trả lại cho ông Chảo Xuần Phẩu cùng với đăng ký xe số 070522 mang tên Sùng A G.

Đối với 01 giấy phép lái xe mô tô, 01 điện thoại di động OPPO, 01 điện thoại di động PHILIPS: Đây là giấy tờ tùy thân và tài sản của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo.

Về án phí: Do bị cáo Chảo Ông K bị kết án và phải bồi thường nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Chảo Ông K phạm tội “Giết người” và tội “Cướp tài sản”

Áp dụng điểm g khoản 1 Điều 123, điểm h khoản 1 Điều 52, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự:

Xử phạt bị cáo Chảo Ông K tù Chung thân về tội “Giết người”.

Áp dụng khoản 1 Điều 168, điểm h khoản 1 Điều 52, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự:

Xử phạt bị cáo Chảo Ông K 04 (Bốn) năm tù về tội “Cướp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Chảo Ông K phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là tù Chung thân Thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày bị tạm giữ ngày 03/4/2021.

Về trách nhiệm dân sự:

Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584, 591 Bộ luật Dân sự:

Buộc bị cáo Chảo Ông K phải bồi thường cho đại diện hợp pháp của bị hại anh Vàng Văn Q số tiền là 209.050.000đ (Hai trăm linh chín triệu không trăm năm mươi nghìn đồng).

Xác nhận gia đình bị cáo đã bồi thường cho đại diện bị hại số tiền là 28.870.000đ. Bị cáo tiếp tục phải bồi thường cho anh Vàng Văn Q số tiền là: 180.180.000 đồng (Một trăm tám mươi triệu một trăm tám mươi ngàn đồng chẵn).

Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy:

- Quần lót, quần dài, áo dài của tử thi Vùi Thị C;

- 01 (một) bộ quần áo;

- 01 (một) mũ bảo hiểm của Cháo Ổng K;

- 01 (một) con dao thu ở vị trí số 1;

- 01 (một) mẩu kim loại màu đen ở vị trí số 11;

- 01 (một) chiếc kéo thu ở vị trí số 10;

- 01 (một) cánh cửa tủ ở vị trí số 2;

- 01 (một) chày gỗ ở vị trí số 5;

- Mẫu ghi máu thu tại vị trí số 6;

- Mẫu tóc, mẫu máu, mẫu dịch âm đạo, móng tay của tử thi Vùi Thị C;

- Mẫu tóc của Chảo Ông K.

Trả lại cho ông Chảo Xuần Phẩu:

- 01 (một) chiếc mô tô nhãn hiệu SUFAT màu đen BKS 24B1-622.38, số khung A007601, số máy 007656, xe đã cũ đã qua sử dụng, xe có 01 gương bên trái;

- 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký xe số 070522 mang tên Sùng A Giả.

Trả lại cho bị cáo Chảo Ông K:

- 01 (một) giấy phép lái xe số 100126005917 mang tên Chảo Ông K;

- 01 (một) điện thoại di dộng màn hình cảm ứng nhãn hiệu OPPO gắn 01 thẻ sim Viettel điện thoại hết pin, đã cũ đã qua sử dụng, không kiểm tra chi tiết bên trong;

- 01 (một) điện thoại loại bàn phím bấm màu đỏ nhãn hiệu PHILIPS gắn một sim Vinaphone và một thẻ sim Viettel. Điện thoại đã cũ đã qua sử dụng, không kiểm tra chi tiết bên trong.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng số 51 ngày 02/7/2021 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lào Cai với Cục thi hành án dân sự tỉnh Lào Cai).

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí Tòa án:

Buộc bị cáo Chảo Ông K phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm và 9.009.000đ (Chín triệu không trăm linh chín ngàn đồng chẵn) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.

Cỡ chữ