vanban.org

Bản án 39/2021/HSST — Hình sự

TAND huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình Tuyên án 17/11/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh, hình phạt:

Tuyên bố bị cáo Hà Văn H phạm tội Trộm cắp tài sản. Về án phí: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hà Văn H - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh, hình phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MAI CHÂU
TỈNH HOÀ BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

––––––––––––
Bản án số: 39/2021/HSST
Ngày: 17-11-2021.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI CHÂU, TỈNH HÒA BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Thanh Tùng.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Tiến Đạt;

Ông Lường Khắc Tiệp.

- Thư ký phiên toà: Bà Khà Thị Thanh Loan – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Châu tham gia phiên toà: Bà Hà Thị Tới- Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 43/2021/HSST ngày 11 tháng 10 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2021/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 11 năm 2021 đối với bị cáo:

Hà Văn H, sinh ngày 05 tháng 01 năm 1995, tại huyện M, tỉnh Hoà Bình; nơi cư trú: Xóm V, xã B, huyện M, tỉnh Hoà Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 9/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà Văn V, sinh năm 1960 và bà Hà Thị Th, sinh năm 1960; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: Không; tiền sự: 01 tiền sự, ngày 01/6/2021 bị Công an xã Hang Kia, huyện Mai Châu, tỉnh Hoà Bình xử phạt hành chính, phạt tiền 1.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản, tại Quyết định số: 04/QĐ - XPHC (đã nộp phạt ngày 07/6/2021); nhân thân: Không có án tích, xử lý hành chính, xử ký kỷ luật đã được xoá, có sử dụng chất ma tuý. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 27/7/2021. Có mặt.

Bị hại: Anh Đinh Công Th, sinh năm 1986, nơi cư trú: Xóm V, xã B, huyện M, tỉnh Hòa Bình. Có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1995, nơi cư trú: Xóm V, xã B, huyện M, tỉnh Hòa Bình. Vắng mặt.

- Ông Hà Văn V, sinh năm 1960, nơi cư trú: Xóm V, xã B, huyện M, tỉnh Hòa Bình. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 18 giờ ngày 01/7/2021, Hà Văn H đang ở gian bếp nhà mình tại xóm V, xã B thì nhìn thấy có một con chó màu lông đen xám của anh Đinh Công Th là hàng xóm của H chạy sang nhà H và đứng ở dưới gầm sàn. Do cần tiền chi tiêu nên H đã nảy sinh ý định bắt con chó đem đi bán. Quan sát xung quanh thấy không có ai, H đi vào bếp lấy 01 bao tải cũ rồi đi xuống sân, vẫy con chó lại gần và cho con chó vào trong bao tải rồi lấy dây buộc miệng bao tải lại. Sau đó, H dùng xe mô tô không gắn biển kiểm soát của chị Hà Thị H1 là chị gái của H mang con chó đi tiêu thụ. H đi đến quán ăn BM tại xóm V, xã B, huyện Mai Châu thì gặp anh Nguyễn Văn H2, H đã bán con chó vừa trộm cắp được cho anh H2 với số tiền là 600.000 đồng. Số tiền trên H đã chi tiêu hết vào mục đích cá nhân.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 18 ngày 27/7/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình kết luận: 01 con chó cái, màu lông đen xám, có trọng lượng 12 kg có giá trị là 1.560.000 đồng.

Tại Cáo trạng số 42/CT - VKS - HS ngày 11/10/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Châu truy tố bị cáo Hà Văn H về tội Trộm cắp tài sản.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Châu luận tội vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết như sau.

Về tội danh, hình phạt:

- Đề nghị tuyên bố bị cáo Hà Văn H phạm tội Trộm cắp tài sản.

- Đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 173; điểm b, h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Hà Văn H từ 06 tháng đến 09 tháng tù. Thời hạn tính từ ngày bắt tạm giam 27/7/2021.

Về hình phạt bổ sung: Căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội, xét thấy bị cáo không có khả năng thi hành, nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng và bồi thường thiệt hại:

- Ngày 08/9/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mai Châu đã trả lại tài sản là 01 con chó cái, màu lông đen xám, khối lượng 12kg cho anh Đinh Văn Th. Anh Th yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 800.000 đồng tiền anh Th trả cho anh Nguyễn Văn Hiểu để chuộc lại con chó. Ngày 19/8/2021 ông Hà Văn V đã thay bị cáo H đã bồi thường cho anh Đinh Văn Th số tiền 800.000 đồng, anh Th đã đã nhận lại tài sản và nhận đủ tiền theo yêu cầu, không có yêu cầu bồi thường gì khác nên đề nghị không xét đến.

Về các vấn đề khác:

- Đối với anh Nguyễn Văn H không có hứa hẹn trước với bị cáo về việc mua tài sản và không biết đó là tài sản do bị cáo phạm tội mà có nên không có căn cứ đề nghị xử lý.

- Đối với chiếc xe mô tô Hà Văn H sử dụng để mang tài sản trộm cắp được đi tiêu thụ, kết quả điều tra xác định xe mô tô trên thuộc sở hữu hợp pháp của chị Hà Thị H1, là chị gái của bị cáo. Chị H1 không biết việc H sử dụng xe mô tô của chị H1 mang tài sản trộm cắp được đi tiêu thụ, không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, đề nghị không xét đến.

Đề nghị áp dụng khoản 1 và khoản 3 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.

Ý kiến của bị cáo: Bị cáo đã nhận được các văn bản tố tụng của Cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án, quá trình điều tra, truy tố xét xử bị cáo đã được phổ biến quyền và nghĩa vụ, không bị ép cung, mớm cung, bị cáo đồng ý với nội dung Cáo trạng và Quyết định đưa vụ án ra xét xử không thắc mắc gì, bị cáo không có ý kiến tranh luận gì, bị cáo không thuê Luật sư hoặc nhờ trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho mình. Do bị cáo thấy có cơ hội nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản để bán lấy tiền chi tiêu cá nhân. Sau sự việc xảy ra bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi trộm cắp tài sản của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ tội cho bị cáo.

Ý kiến của bị hại: Khoảng 19 giờ ngày 01/7/2021 anh Th đi làm về nhưng không thấy con chó, anh đi tìm nhưng không thấy. Đến ngày 22/7/2021 khi đi ăn sáng anh nhìn thấy con chó của mình tại quán ăn sáng và đã làm đơn trình báo sự việc. Đến nay anh đã nhận lại tài sản bị mất và đã nhận lại số tiền yêu cầu bị cáo bồi thường tiền chuộc lại con chó, không yêu cầu bồi thường và không có yêu cầu gì khác, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Ý kiến của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Nguyễn Văn H2 trình bày: Khoảng hơn 19 giờ ngày 27/7/2021 khi anh đang ở nhà thì có người đến hỏi anh H2 mua chó không, anh H2 đồng ý mua con chó với giá 600.000 đồng. Sau khi mua anh đã tiêm phòng và chăm sóc con chó. Anh Th đã đến chuộc lại con chó với giá 800.000 đồng. Anh H2 không biết con chó là do bị cáo trộm cắp mà có, không hứa hẹn sẽ mua con chó, không có yêu cầu bồi thường và yêu cầu gì khác.

Ý kiến của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Hà Văn V trình bày: Ông là bố của bị cáo, sau khi sự việc xảy ra bị cáo đã tác động để ông đến gặp anh Đinh Công Th và bồi thường số tiền 800.000 đồng cho anh Th. Ông không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền này và không có yêu cầu gì khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Những chứng cứ xác định có tội:

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã trình bày toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản của mình như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, vật chứng thu được và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó đã có đủ căn cứ xác định: Khoảng 18 giờ ngày 01/7/2021, tại xóm Vặn, xã B, huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình, Hà Văn H đã có hành vi trộm cắp 01 con chó, màu lông đen xám, khối lượng 12 kg trị giá 1.560.000 đồng của anh Đinh Công Th. Giá trị tài sản bị cáo trộm cắp dưới 2.000.000 đồng, tuy nhiên bị cáo đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản theo Quyết định số: 04/QĐ – XPHC ngày 01/6/2021 của Công an xã Hang Kia chưa được xóa mà còn vi phạm. Như vậy có đủ căn cứ xác định bị cáo Hà Văn H phạm tội Trộm cắp tài sản, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Chứng cứ xác định không có tội: Không có.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, gây hậu quả không lớn. Bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo vừa bị xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản nhưng không lấy đó làm bài học, tu dưỡng rèn luyện bản thân, sửa chữa lỗi lầm, vẫn cố ý thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Khi thấy có sự sơ hở trong quản lý tài sản của chủ sở hữu đã trộm cắp tài sản để bán lấy tiền chi tiêu, thỏa mãn lối sống của mình. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, đồng thời gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, trị an của địa phương, nên phải chịu trách nhiệm hình sự.

Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã tác động gia đình bồi thường toàn bộ thiệt hại; bị cáo phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tại Cơ quan Điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình; bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Từ tính chất mức độ, nguyên nhân, hậu quả của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo nêu trên, xét cần xử phạt tù có thời hạn với mức án nghiêm khắc, nhưng phù hợp đối với bị cáo, nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Về tội danh, điều luật áp dụng, hình phạt, hình phạt bổ sung, trách nhiệm bồi thường thiệt hại, xử lý vật chứng và các vấn đề khác mà đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đã có ý kiến đề nghị nêu trên. Xét thấy có căn cứ phù hợp quy định pháp luật cần xử lý, giải quyết theo hướng đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc kH nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Về án phí: Bị cáo Hà Văn H phải nộp án phí theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án, theo quy định tại các Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh, hình phạt:

Tuyên bố bị cáo Hà Văn H phạm tội Trộm cắp tài sản.

- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 173; điểm b, h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Hà Văn H 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tính từ ngày bị bắt tạm giam 27/7/2021.

2. Về án phí:

Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Bị cáo Hà Văn H phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo:

Căn cứ Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình để xin xét xử phúc thẩm, người vắng mặt có quyền kháng cáo cùng thời hạn kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ