vanban.org

Bản án 39/2021/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Khánh Hòa Tuyên án 20/05/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Nguyễn Đàng Bảo L 13 (Mười ba) năm tù về tội “Giết người”; Thời hạn tù tính từ ngày 05/3/2020.

Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo với các bị hại. Theo đó, bị cáo Nguyễn Đàng Bảo L bồi thường cho bị hại Nguyễn Bá P 15.000.000 (Mười lăm triệu) đồng, bồi thường cho bị hại Y D 12.000.000 (Mười hai triệu) đồng. Quy định: Kể từ ngày bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Xử phạt bị cáo Nguyễn Đàng Bảo L về tội “Giết người” - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Nguyễn Đàng Bảo L 13 (Mười ba) năm tù về tội “Giết người”; Thời hạn tù tính từ ngày 05/3/2020.
  • Căn cứ chính? Điều 123 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 39/2021/HS-ST
Ngày: 20 - 5 - 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tuấn

Thẩm phán:

Bà Lâm Vương Mỹ Linh

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Hữu Lý

Ông Mai Gia Cát

Ông Trần Văn Lý

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa:

Bà Hoàng Thị Ngọc Diệp - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 5 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 190/2020/TLST-HS ngày 24 tháng 11 năm 2020; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2021/QĐXXST-HS ngày 17/3/2021 đối với bị cáo:

Nguyễn Đàng Bảo L (tên gọi khác: Tin), sinh năm 1994, tại Phú Yên; nơi đăng ký HKTT: Thôn L, xã B, thành phố T, tỉnh Phú Yên; chỗ ở: 04 đường T, phường X, thành phố T, tỉnh Phú Yên; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn B (sinh năm 1965) và bà Đàng Thị Tuyết M (sinh năm 1965); tiền sự: Không; tiền án: Ngày 08/9/2014 bị Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên xử phạt 7 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Bản án số 96/2014/HSST ngày 08/9/2014, chấp hành xong hình phạt tù ngày 02/10/2018;

Nhân thân: Ngày 03/8/2011 bị Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 69/2011/HSST ngày 03/8/2011,

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 05/3/2020; có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Duy D – Luật sư Văn phòng Luật sư Đặng Văn P thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Khánh Hòa địa chỉ: 108 T, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại:

1. Ông Y D, sinh năm 1998; HKTT: Thôn T, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; chỗ ở: 274 H, phường N, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; vắng mặt tại phiên tòa.

2. Ông Nguyễn Bá P, sinh năm 1994; nơi cư trú: 31 M, tổ 1, thôn H, xã V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; vắng mặt tại phiên tòa.

- Người làm chứng:

1. Ông Võ Công Đ, sinh năm 1999; HKTT: Thôn Đ, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên; chỗ ở: 114 P, đường L, xã V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; vắng mặt tại phiên tòa.

2. Bà Nguyễn Thị Mỹ Th, sinh năm 2002; HKTT: Xã A, huyện T, tỉnh P; chỗ ở: 274 H, phường N, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; vắng mặt tại phiên tòa.

3. Bà Hà Thị Mỹ D, sinh năm 1987, nơi cư trú: Tổ 13 V, xã V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Võ Công Đ và Nguyễn Thị Mỹ Th là nhân viên phục vụ tại quán nhậu L, số 285 H, phường N, tp N, Khánh Hòa. Trong quá trình làm việc tại quán, Đ và Th có mâu thuẫn với nhau.

Khoảng 18 giờ 20 phút ngày 08/10/2019, Đ ngồi nhậu cùng Nguyễn Đàng Bảo L tại quán L thì Th cùng với Y D và Nguyễn Bá P đến tìm gặp Đ để nói chuyện về lý do Đ và Th mâu thuẫn với nhau. Khi Y D, P, Đ đi ra trước quán để nói chuyện; cho rằng Y D và P đánh Đ nên L vào trong bếp của quán lấy 01 con dao chặt thịt (dài 35cm, cán gỗ, lưỡi bằng kim loại bản rộng 10cm) chạy đến chỗ Y D, P rồi chém nhiều nhát vào vùng mặt, vùng đầu của Y D. P thấy vậy lao vào can ngăn thì bị L dùng dao chém nhiều nhát vào mặt và vùng đầu. P bỏ chạy, L cầm dao rượt theo sau. Được mọi người can ngăn nên L cầm dao chạy vào trong bếp của quán trốn; Y D và P được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Khánh Hòa khâu vết thương và ra về cùng ngày.

Tại bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 322/TgT ngày 30/10/2019 của Trung tâm pháp y tỉnh Khánh Hòa kết luận tỷ lệ thương tật của Nguyễn Bá P như sau: Vùng má trái có 02 sẹo có kích thước lớn và 01 sẹo có kích thước trung bình, sẹo ảnh hưởng thẩm mỹ; 01 sẹo có kích thước nhỏ vùng thái dương trái, sẹo khô tốt. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 15%.

Tại bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 324/TgT ngày 30/10/2019 của Trung tâm pháp y tỉnh Khánh Hòa kết luận tỷ lệ thương tật của Y D như sau: Vùng má trái có 02 sẹo có kích thước lớn và 01 sẹo có kích thước trung bình, sẹo ảnh hưởng thẩm mỹ; 01 sẹo vùng má trái ảnh hưởng thẩm mỹ; 01 sẹo vùng đầu có kích thước nhỏ, sẹo khô tốt. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 12%.

Bản cáo trạng số 153/CT-VKSKH-P1 ngày 18 tháng 11 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa đã truy tố bị cáo Nguyễn Đàng Bảo L về tội “Giết người” theo quy định tại điểm a, n, p khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa vẫn giữ nguyên nội dung đã truy tố đối với bị cáo Nguyễn Đàng Bảo L và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a, n, p khoản 1 Điều 123, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 57 của Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Nguyễn Đàng Bảo L mức hình phạt từ 12 năm đến 14 năm tù về tội “Giết người”.

Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử công nhận sự tự nguyện của bị cáo. Bị cáo Nguyễn Đàng Bảo L có trách nhiệm bồi thường cho bị hại Nguyễn Bá P 15.000.000 đồng, bồi thường cho bị hại Y D 12.000.000 đồng.

Về vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy 01 con dao chặt thịt dài 35 cm

Tại phiên tòa, người bào chữa cho bị cáo trình bày: Đồng ý với nội dung cáo trạng đã truy tố bị cáo về hành vi và tội danh. Trong vụ án này có một phần lỗi của bị hại, bị cáo không cố ý tước đoạt tính mạng của các bị hại, bị cáo phạm tội thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt, bản thân bị cáo đã rất ăn năn, hối cải về hành vi của mình, tại phiên tòa đã đồng ý bồi thường toàn bộ số tiền theo yêu cầu của các bị hại. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, xử bị cáo mức hình phạt bằng mức khởi điểm mà Viện kiểm sát đề nghị.

Tại phiên tòa: Bị cáo đồng ý với nội dung bản cáo trạng đã truy tố, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, bị hại, người làm chứng vắng mặt, xét thấy việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc giải quyết vụ án, nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra Công an tỉnh Khánh Hòa, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Luật sư, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Đàng Bảo L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đã thực hiện, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, và các tài liệu, chứng cứ khác đã được Cơ quan cảnh sát điều tra thu thập có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 18 giờ 20 phút ngày 08/10/2019, tại quán nhậu L, số 285 H, L H, tp N, Khánh Hòa, Nguyễn Đàng Bảo L dùng 01 con dao chặt thịt chém nhiều nhát vào vùng mặt, đầu của Y D và Nguyễn Bá P làm Y D bị thương tích 12%, Nguyễn Bá P bị thương tích 15%.

Bị cáo và bị hại không có mâu thuẫn nhưng bị cáo đã dùng dao chặt thịt là hung khí nguy hiểm, chém vào vùng đầu, vùng mặt của các anh Y D và Nguyễn Bá P là nơi trọng yếu, có khả năng gây tử vong cao, bị hại không chết là ngoài ý muốn của bị cáo và được cấp cứu kịp thời. Hành vi của bị cáo thể hiện tính côn đồ, xâm hại đến nhiều người, bản thân bị cáo mới chấp hành hình phạt tù về tội rất nghiêm trọng chưa được xóa án tích, nay tiếp tục phạm tội đặc biệt nghiêm trọng nên thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Do đó, Cáo trạng số 153/CT-VKSKH-P1 ngày 18/11/2020 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa đã truy tố bị cáo Nguyễn Đàng Bảo L về tội “Giết người” theo quy định tại các điểm a, n, p khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thể hiện tính côn đồ coi thường pháp luật, trực tiếp xâm phạm đến thân thể của nhiều bị hại, sau khi chấp hành xong hình phạt tù không tu dưỡng bản thân mà tiếp tục phạm tội mới nghiêm trọng hơn, nên cần xử phạt nghiêm, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, xét thấy sau khi phạm tội, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải hành vi của bị cáo thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt nên cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 57 của Bộ luật Hình sự năm 2015, xem xét giảm cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo.

Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, các bị hại vắng mặt. Tuy nhiên, bị hại Nguyễn Bá P có đơn yêu cầu bị cáo bồi thường 15.000.000 đồng về các khoản tổn thất tinh thần, mất thu nhập trong thời gian điều trị. Bị hại Y D có đơn yêu cầu bị cáo bồi thường 12.000.000 đồng về các khoản tổn thất tinh thần, sức khỏe, mất thu nhập trong thời gian điều trị. Bị cáo Nguyễn Đàng Bảo L đồng ý bồi thường toàn bộ theo yêu cầu của các bị hại nêu trên. Xét thấy đây là sự tự nguyện bồi thường của bị cáo cho các bị hại. Do đó, ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo đối với các bị hại. Theo đó, bị cáo Nguyễn Đàng Bảo L bồi thường cho bị hại Nguyễn Bá P 15.000.000 (Mười lăm triệu) đồng, bồi thường cho bị hại Y D 12.000.000 (Mười hai triệu) đồng.

Về vật chứng: Cơ quan điều tra có thu giữ: 01 con dao dài 35 cm. Xét thấy không còn giá trị sử dụng nên đề nghị tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, dân sự sơ thẩm theo quy định chung.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ các điểm a, n, p khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 3 Điều 57 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Căn cứ Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 590 của Bộ luật Dân sự;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Đàng Bảo L 13 (Mười ba) năm tù về tội “Giết người”; Thời hạn tù tính từ ngày 05/3/2020.

2. Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo với các bị hại. Theo đó, bị cáo Nguyễn Đàng Bảo L bồi thường cho bị hại Nguyễn Bá P 15.000.000 (Mười lăm triệu) đồng, bồi thường cho bị hại Y D 12.000.000 (Mười hai triệu) đồng.

Quy định: Kể từ ngày bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên phải thi hành án không thi hành các khoản tiền trên thì hàng tháng còn phải chịu thêm một khoản tiền lãi theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tại thời điểm thi hành án tương ứng với thời gian và số tiền chậm thi hành.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

3. Về vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu hủy 01 con dao dài 35 cm. Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 30 tháng 12 năm 2020 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Khánh Hòa với Cục Thi hành án dân sự tỉnh Khánh Hòa.

4. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Đàng Bảo L phải nộp 200.000đ tiền án phí Hình sự sơ thẩm và 1.350.000 đồng án phí Dân sự sơ thẩm.

Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án, để yêu cầu Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.

Cỡ chữ