- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cô Văn H - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO LẠC TỈNH CAO BẰNG ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 39 /2021/HS-ST Ngày 09/12/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO LẠC, TỈNH CAO BẰNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Doanh Thị Mây
Các Hội thẩm nhân dân
Bà Dương Thị Lầu
Ông Đặng Văn Ẩy
- Thư ký phiên tòa: Ông Tống Văn Tài - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa: Bà Lưu Minh Nguyệt - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 12 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 39/2021/TLST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2021/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 11 năm 2021 đối với:
Bị cáo Cô Văn H; Sinh ngày 26 tháng 10 năm 1996
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Xóm NV, xã HT, huyện BL, tỉnh Cao Bằng.
Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hoá: 10/12; Dân tộc: Lô lô; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam;
Con ông Cô Văn C, sinh năm 1972 và bà Lang Thị H, sinh năm 1970; có vợ là Hoàng Thị N, sinh năm 1998 và có 01 (một) con sinh năm 2014;
Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Nhân thân: Không;
Bị cáo bị bắt tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng từ ngày 26 tháng 8 năm 2021 đến nay (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
* Bị hại: Ông Hoàng Quang T, sinh năm1996; Nơi cư trú: Xóm HN, xã HA, huyện BL, tỉnh Cao Bằng (Vắng mặt tại phiên tòa).
* Người làm chứng: Ông Cô Văn H, sinh năm 2000; Nơi cư trú: Xóm NV, xã HT, huyện BL, tỉnh Cao Bằng (Vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 21 giờ, ngày 20/8/2021 Cô Văn H sinh năm 1996 trú tại NV, xã HT, huyện BL gặp một người tên C (không rõ họ, ở ĐH, BM, Cao Bằng) tại thị trấn BL. Tại đây H và C rủ nhau góp tiền đi mua ma túy về sử dụng. H đưa cho C số tiền 1.400.000 đồng để C đi tìm mua ma túy rồi cả hai đi mua kim tiêm và thuốc cho con của C tại cửa hàng thuốc trước cổng Trung tâm y tế huyện Bảo Lạc. Sau khi mua xong, C bảo H ngồi đợi còn C điều khiển xe máy của H đi mua ma túy, một lúc sau H gọi điện cho C thì C bảo chưa mua được ma túy. Vì muốn sử dụng ma túy luôn nên H gọi điện cho Kê Văn S, sinh năm 1995 trú tại xã KX, huyện BL hỏi mua ma túy thì S nói là “có nhưng đang ở LB, BM còn lâu nữa mới lên thị trấn BL được, nếu vật quá thì đi xe máy xuống nửa đường gặp thì sẽ đưa cho”. Vì không có xe nên H nảy sinh ý định trộm cắp xe máy tại Trung tâm y tế huyện Bảo Lạc để xuống xã LB, huyện BM gặp S. H quan sát xung quanh khu vực nhà xe của Trung tâm y tế huyện Bảo Lạc thấy cán bộ ở khu vực trông xe không để ý và lợi dụng đêm tối, ít người H đi tìm và nhặt được một thanh kim loại dài khoảng 10cm, đường kính khoảng 0,1cm nhìn thấy xe máy Sirius màu vàng đen (biển kiểm soát 88E1-003.15 của Hoàng Quang T, sinh năm 1997 trú tại HN, HA BL) ở gần đó H sử dụng thanh kim loại tra vào ổ khóa mở được xe và điều khiển chiếc xe trên đi theo hướng xã LB, huyện BM với mục đích tìm mua ma túy với S. Khi điều khiển xe đến đoạn đường cách Trạm y tế xã Bảo Toàn, huyện Bảo Lạc khoảng 02km thì gặp S, tại đây H dùng chân đạp vào biển số xe làm biển số rơi với mục đích để không bị ai phát hiện, rồi cùng S sử dụng ma túy ngay bên lề đường, sử dụng ma túy xong S đi về. H liên lạc với C và ở lại chờ C đến cả hai cùng sử dụng ma túy, sau khi sử dụng ma túy C điều khiển xe máy của H còn H điểu khiển xe máy vừa trộm được đi về nhà của H NN, xã HT, huyện BL cùng nhau tiếp tục sử dụng ma túy. Đến sáng ngày 21/8/2021 Ch đi về còn H sang nhà Cô Văn H, em trai họ ở cùng xóm NV ăn cơm. H điều khiển xe máy trộm được qua nhà H, H hỏi “xe này mua mới à”, thì H nói “Anh lấy từ cổng bệnh viện ra” đến gần trưa cùng ngày nghe tin có người tìm H, H nghĩ việc mình trộm xe bị phát hiện nên đã bỏ trốn vào rừng, chiếc xe máy trộm được để lại nhà của H. Đến ngày 26/8/2021 H bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bảo Lạc bắt giữ.
Đối với bị hại Hoàng Quang T, sau khi phát hiện bị mất xe đã trình báo Công an huyện Bảo Lạc. Quá trình điều tra T đã được nhận lại xe máy theo Quyết định xử lý vật chứng số 14 ngày 27/9/2021 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng.
Tại Kết luận định giá tài sản số 11/KL-HĐĐGTS ngày 31/8/2021 của Hội đồng định giá tài sản huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng kết luận: Một chiếc xe máy nhãn hiệu Sirius màu vàng đen, số máy: 5C64358660, số khung: C640AY358658, xe cũ đã qua sử dụng có trị giá là 3.200.000 đồng.
Tại bản Cáo trạng số: 41/CT-VKSBL ngày 28/10/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng đã truy tố bị cáo Cô Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015.
Tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Cô Văn H theo như bản Cáo trạng đã nêu. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Tuyên xử bị cáo Cô Văn H phạm tội Trộm cắp tài sản, đề nghị khung hình phạt đối với bị cáo từ 06 (sáu) đến 09 (chín) tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản là chiếc xe máy, không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không đề nghị xem xét.
Về xử lý vật chứng: Một điện thoại di động nhãn hiệu HUAWEI màu đỏ (mặt trước bị nứt vỡ), có số IMEI1 867615044818232; IMEI2 867615044858246, điện thoại cũ đã qua sử dụng là phương tiện bị cáo sử dụng để liên lạc mua ma túy, đề nghị tịch thu phát mại nộp ngân sách nhà nước.
Bị cáo Cô Văn H thừa nhận hành vi của mình là sai, vi phạm pháp luật, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Bị cáo Cô Văn H thừa nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố là đúng. Hội đồng xét xử xét thấy lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người làm chứng, chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ.
Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo là người đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự đối với mọi hành vi do mình gây ra. Bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp, hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội.
Theo quy định tại Bộ luật hình sự năm 2015.
“Điều 173. Tội trộm cắp tài sản
1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm...”
Như vậy, hành vi của bị cáo Cô Văn H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo Cô Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Cô Văn H, ngày 15/10/2021 Công an huyện Bảo Lạc, Cao Bằng đã Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền.
Đối với Kê Văn S, sinh năm 1995 trú tại xã KX, huyện BL, tỉnh Cao Bằng theo lời khai của H, S là người cho H sử dụng ma túy vào ngày 20/8/2021 và bán ma túy cho H. Cơ quan Điều tra đã tiến hành lấy lời khai, S khai nhận không được bán ma túy cho H lần nào chỉ được cho H sử dụng ma túy nhiều lần trong đó có ngày 20/8/2021. Ngày 05/10/2021 Cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét chỗ ở của S, kết quả: Không phát hiện và tạm giữ đồ vật, tài liệu gì. Do mâu thuẫn lời khai nên Cơ quan Điều tra đã tiến hành đối chất giữa H và S, kết quả: S không thừa nhận hành vi được bán ma túy cho H. Do vậy Cơ quan điều tra không có đủ căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với S về hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy”, ngày 18/10/2021 Công an huyện Bảo Lạc đã Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với S về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy bằng hình thức phạt tiền.
Đối với Cô Văn H là người biết H có hành vi trộm cắp tài sản do H kể lại, sau khi biết H có hành vi trên thì H đã trình báo Công an huyện Bảo Lạc để tạm giữ chiếc máy do H trộm cắp phục vụ công tác điều tra.
Đối với người tên C (theo lời của H) được cùng H góp tiền mua ma túy để sử dụng vào ngày 20/8/2021. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh trên địa bàn xã ĐH, huyện BM, tỉnh Cao Bằng có nhiều người tên C nhưng đều không có biểu hiện sử dụng trái phép chất ma túy. Vì vậy, Cơ quan điều tra không đủ căn cứ để triệu tập, ghi lời khai để xử lý.
Về nhân thân: Tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự
Bị cáo Cô Văn H sinh ra và lớn lên tại xã HT, huyện BL, tỉnh Cao Bằng được học đến hết lớp 10/12. Bị cáo còn trẻ là người có sức khỏe, sống trong môi trường xã hội lành mạnh. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là sai. Bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo hợp tác với Cơ quan điều tra, thành khẩn khai báo, ăn năn hối lỗi về hành vi của mình, Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tình tiết tăng nặng không có. Tuy nhiên, bị cáo có nhân thân xấu là người sử dụng và lệ thuộc vào ma túy. Xét cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để giáo dục cải tạo bị cáo cũng như đấu tranh phòng ngừa chung trong xã hội.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Hoàng Quang T đã nhận lại tài sản không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về xử lý vật chứng: Một điện thoại di động nhãn hiệu HUAWEI màu đỏ (mặt trước bị nứt vỡ), có số IMEI1 867615044818232; IMEI2 867615044858246, điện thoại cũ là phương tiện bị cáo sử dụng để liên lạc mua ma túy, xét cần tịch thu phát mại nộp ngân sách nhà nước.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017. Tuyên bố bị cáo Cô Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự 2015. Xử phạt bị cáo Cô Văn H 09 (Chín) tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, thời gian thụ hình tính từ ngày bị cáo bị bắt giam ngày 26/8/2021.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.
Tịch thu phát mại nộp ngân sách nhà nước một điện thoại di động nhãn hiệu HUAWEI màu đỏ (mặt trước bị nứt vỡ), có số IMEI1 867615044818232; IMEI2 867615044858246, điện thoại cũ đã qua sử dụng.
Vật chứng trên đang được bảo quản tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 04 ngày 29/10/2021.
3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
Bị cáo Cô Văn H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm nộp công quỹ nhà nước.
Án xử sơ thẩm có mặt bị cáo, vắng mặt bị hại. Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND huyện; VKSND tỉnh; - Công an huyện; - Chi cục THADS huyện; - Sở Tư pháp; - Bị cáo; - Những người tham gia tố tụng khác; - UBND xã Hồng Trị - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Doanh Thị Mây |