vanban.org

Bản án 39/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

* Xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Đỗ Thị Ng.

Về hôn nhân: Xử cho chị Đỗ Thị Ng được ly hôn với anh Lê Ngọc TH. Về con chung: Chị Ng và anh TH có 02 con chung cháu Lê Ngọc Quỳnh A Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "LY HÔN"
  • Tòa quyết gì? * Xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Đỗ Thị Ng.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ NGHI SƠN
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 39/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 22 – 11 - 2021
V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly
hôn”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Thị Cúc.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông: Lê Minh Chung

2. Ông Mai Đức Danh

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Cao Cường - Thư ký Tòa án nhân dânthị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoa – Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 224/2021/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 10 năm 2021 về việc “Ly hôn, tranh chấp về con chung khi ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 125 /2021/QĐXXST-HNGĐ, ngày 11 tháng 11 năm 2021, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Đỗ Thị Ng - sinh năm: 1989; Có mặt

ĐKHKTT: TDP Thắng H, phường Tĩnh H, thị xã Nghi S, tỉnh Thanh H

Địa chỉ hiện tại: TDP 3, phường Xuân L, thị xã Nghi S, tỉnh Thanh H

- Bị đơn: Anh Lê Ngọc TH - sinh năm 1987

HKTT: TDP Thắng H, phường Tĩnh H, thị xã Nghi S, tỉnh Thanh H

Nơi tạm trú: Ấp 2, Tân Th, TP. Đồng X, tỉnh Bình Ph

Tại phiên tòa vắng mặt anh TH có đơn xin xét xử vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và bản tự khai chị Đỗ Thị Ng trình bày: Chị và anh Lê Ngọc TH kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Tĩnh H, huyện Tĩnh Gi nay là phường Tĩnh H, thị xã Nghi S vào ngày 21/12/2011. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống bình thường đến khi sinh con được hơn ba tháng thì vợ chồng thường xuyên bất đồng quan điểm sống, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng và kéo dài. Đến tháng 6/2014, do không chịu đựng được nên chị về nhà mẹ đẻ ở cho đến nay. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn.

Về con chung: Vợ chồng anh chị có 02con chung là: Lê Ngọc Quỳnh A - sinh ngày: 26/9/2012 và cháu Lê Ngọc Lan H – Sinh ngày 11/6/2014, nay ly hôn nguyện vọng của chị xin được nuôi cháu Lê Ngọc Lan H và không yêu cầu anh TH cấp dưỡng nuôi con

Về tài sản và công nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết

Tại đơn đề nghị, bản tự khai và đơn xin không tiến hành hòa giải và xét xử vắng mặt anh Lê Ngọc TH trình bày như sau: Anh và chị kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu và có đăng kí kết hôn như chị Ng trình bầy là đúng. Quá trình chung sống được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do không hợp nhau, cuộc sống không hạnh phúc. Anh và chị Ng sống ly thân từ năm 2014 cho đến nay. Nay chị Ng làm đơn ly hôn, anh xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên đồng ý ly hôn.

Về con chung: Vợ chồng anh có hai con nguyện vọng của anh xin được nuôi cháu Lê Ngọc quỳnh A và cũng không yêu cầu chị Ng cấp dưỡng nuôi con cùng anh..

Về tài sản và công nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án là đúng với quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự trong vụ án đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 28, 35, điểm b khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự và các Điều 51, Điều 56, khoản 2 Điều 81, khoản 3 Điều 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Xử cho chị Đỗ Thị Ng được ly hôn với anh Lê Ngọc TH; Về con chung: Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự Giao cháu Lê Ngọc Lan H cho chị Ng trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu Lê Ngọc Quỳnh A cho anh TH trực tiếp nuôi dưỡng. Các bên không phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung cùng nhau. Các bên đương sự được quyền đi lại, thăm nom chăm sóc con chung không ai được ngăn cấm. Về tài sản và công nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên HĐXX không xem xét.

Về án phí: Buộc chị Ng phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Chị Đỗ Thị Ng khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án “ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 BLTTDS. Bị đơn anh Lê Ngọc TH có hộ khẩu thường trú trên địa bàn thị xã Nghi Sơn, sau khi thụ lý đã có đơn cung cấp địa chỉ mới của anh TH tại Ấp 2, Tân Thành, TP. Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước, anh TH có đơn đề nghị lựa chọn TAND thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa là Tòa án giải quyết vụ án ly hôn cho anh và chị Ng có xác nhận của UBND xã Tân Thành, TP. Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước nên TAND Thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa có thẩm quyền giải quyết vụ án theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Quá trình giải quyết vụ án anh TH có đơn xin xét xử vắng mặt HĐXX căn cứ vào khoản 1 Điều 228 BLHS xét xử vắng mặt anh TH.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Đỗ Thị Ng và anh Lê Ngọc TH kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Tĩnh H, huyện Tĩnh Gi nay là UBND phường Tĩnh H, thị xã Nghi S vào năm 2011, đây là hôn nhân hợp pháp. Cả anh TH và chị Ng đều xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đều đều thuận tình ly hôn. Do dịch bệnh covid 19 nên anh TH không về để giải quyết ly hôn được, anh có đơn đề nghị Tòa án công nhận thuận tình ly hôn giữa anh và chị Ng. Trên cơ sở ý chí tự nguyện của anh TH và chị Ng HĐXX xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chấp nhận đề nghị của anh TH và chị Ng.

Về con chung: Chị Ng và anh TH xác định vợ chồng có hai con chung. Nay ly hôn hai bên tự nguyện thỏa thuận như sau: Giao cháu Lê Ngọc Lan H cho chị Ng trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu Lê Ngọc Quỳnh A cho anh TH trực tiếp nuôi dưỡng. Các bên không yêu cầu đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung cùng nhau. Xét thấy đây là sự thỏa thuận tự nguyện của các bên, phù hợp với nguyện vọng của các cháu nên HĐXX chấp nhận.

Về chia tài sản và công nợ chung: Quá trình giải quyết vụ án các bên đương sự không yêu cầu nên HĐXX không xét.

Về án phí: Chị Ng phải chịu án phí DSST về việc ly hôn.

Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa hôm nay về việc giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định của Tòa án nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Các khoản 1 Điều 28,điểm a khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 4 Điều 207, khoản 1 Điều 228 và, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 55, khoản 2 Điều 81, khoản 3 Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

* Xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Đỗ Thị Ng.

1. Về hôn nhân: Xử cho chị Đỗ Thị Ng được ly hôn với anh Lê Ngọc TH.

2. Về con chung: Chị Ng và anh TH có 02 con chung cháu Lê Ngọc Quỳnh A

- sinh ngày: 26/9/2012 và cháu Lê Ngọc Lan H – Sinh ngày 11/6/2014. Giao cháu Lê Ngọc Lan H cho chị Ng trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu Lê Ngọc Quỳnh A cho anh TH trực tiếp nuôi dưỡng. Các bên không yêu cầu đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung cùng nhau. Các đương sự có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được ngăn cấm.

3. Về tài sản và công nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.

4. Về án phí: Buộc chị Đỗ Thị Ng phải nộp 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là: 300.000đ theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2021/0011969 ngày 07/10/2021 của chi cục THADS thị xã Nghi Sơn. Chị Ng đã thi hành xong.

5.Về quyền kháng cáo: Án xử công khai có mặt chị Ng vắng mặt anh TH. Chị Ng được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, anh TH được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xử lại theo trình tự phúc thẩm.

Cỡ chữ