vanban.org

Bản án 39/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho Bà Nguyễn Thị T đƣợc ly hôn ông Phạm Văn L.

Về con chung: 02 con chung là Phạm Thị L1, sinh ngày 07/01/1984 và Phạm Thị L, sinh ngày 18/5/1989 đều đã trƣởng thành, khỏe mạnh bình thƣờng, do vậy, không đặt ra xem xét, giải quyết. Về án phí: Bà Nguyễn Thị T phải nộp 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm ly hôn, đƣợc đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị T - Phạm Văn L"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho Bà Nguyễn Thị T đƣợc ly hôn ông Phạm Văn L.
  • Căn cứ chính? Luật Phí và lệ phí; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CHÍ LINH
TỈNH HẢI DƢƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 39/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 09 - 9 - 2021
V/v ly hôn

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH, TỈNH HẢI DƢƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Kim Giang;

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Bạn

2. Bà Phạm Thị Trúc Phƣơng

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Giao - Thƣ ký Toà án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dƣơng.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Thiện - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 9 năm 2021 tại trụ sở, Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dƣơng xét xử sơ thẩm, công khai vụ án thụ lý số: 138/2021/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 7 năm 2021 về ly hôn, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 39/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 12/8/2021 giữa các đƣơng sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1966;

Địa chỉ: KDC số 5 T, phƣờng P, thành phố C, tỉnh Hải Dƣơng.

- Bị đơn: Ông Phạm Văn L, sinh năm 1961;

Địa chỉ: KDC số 5 T, phƣờng P, thành phố C, tỉnh Hải Dƣơng.

- Ngƣời làm chứng: Chị Phạm Thị L, sinh năm 1989;

Địa chỉ: P410, nhà A12, T, phƣờng N, quận C, thành phố Hà Nội.

Ông L có mặt; bà T, chị L vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 06/7/2021, bản tự khai và ý kiến tại các buổi làm việc với Tòa án, bà Nguyễn Thị T trình bày: Bà và ông Phạm Văn L đăng ký kết hôn ngày 20/4/1984 tại Ủy ban nhân dân thị trấn P, huyện C (nay là phƣờng P, thành phố C) trên cơ sở tự nguyện và đƣợc hai bên gia đình tổ chức lễ cƣới theo phong tục tập quán địa phƣơng. Sau ngày cƣới, vợ chồng chung sống tại nhà bố mẹ đẻ ông L ở khu dân cƣ P, phƣờng P. Đến đầu năm 1985, vợ chồng xây nhà và ra ở riêng tại khu dân cƣ số 5 T, phƣờng P. Quá trình chung sống, vợ chồng thƣờng xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng không hợp nhau, thƣờng hay bất đồng quan điểm trong cuộc sống và trong làm ăn kinh tế; ông L tính tình nóng nảy, cục cằn, không tôn trọng, tin tƣởng bà và hay nghi ngờ, ghen tuông vô vớ, dẫn đến vợ chồng thƣờng xuyên xảy ra cãi vã, xúc phạm và xô xát. Bà đã cố gắng nhẫn nhịn vì nghĩ đến các con, nhƣng mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng. Năm 2002, bà đi xuất khẩu lao động ở nƣớc ngoài. Đến năm 2016, bà về nƣớc nhƣng vợ chồng vẫn tiếp tục xảy ra mâu thuẫn nên năm 2017 bà lại sang Ma Cao, Trung Quốc lao động. Đến tháng 5/2021, hết hạn lao động bà về nƣớc, nhƣng do vợ chồng mâu thuẫn nên bà không chung sống cùng với ông L mà đi làm tự do bên ngoài. Vợ chồng sống ly thân từ 2017 đến nay. Nay bà xác định vợ chồng không còn tình cảm và không thể đoàn tụ đƣợc, do vậy, bà giữ nguyên quan điểm đề nghị Tòa án giải quyết cho bà đƣợc ly hôn ông L. Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Phạm Thị L1, sinh ngày 07/01/1984 và Phạm Thị L, sinh ngày 18/5/1989. Hiện tại, cả hai con chung đều đã trƣởng thành, khỏe mạnh và đã lập gia đình riêng, do vậy, bà không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về quan hệ tài sản: Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Tại bản tự khai ngày 20/7/2021 và ý kiến tại các buổi làm việc, bị đơn - ông Phạm Văn L trình bày thống nhất nội dung về thời gian, điều kiện kết hôn nhƣ lời khai của bà T. Ông xác định bà T đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan - Trung Quốc từ năm 2002, đến năm 2016 bà T về nƣớc. Vợ chồng phát sinh mâu thuẫn trầm trọng kể từ cuối năm 2017. Nguyên nhân là do bà T sau khi đi nƣớc ngoài về thì thay đổi tính cách, vợ chồng không tìm đƣợc tiếng nói chung, không có sự tin tƣởng lẫn nhau, không có sự chia sẻ tâm tƣ, tình cảm dẫn đến tình cảm vợ chồng ngày càng rạn nứt và không thể nói chuyện đƣợc với nhau. Nay bà T xin ly hôn, quan điểm của ông là mong muốn vợ chồng đoàn tụ, nhƣng nếu bà T cứ cƣơng quyết xin ly hôn thì ông cũng nhất trí. Về con chung: Ông xác định 02 con chung Phạm Thị L1 và Phạm Thị L đều đã trƣởng thành, khỏe mạnh và đã lập gia đình riêng, do vậy, ông không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về quan hệ tài sản: Ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Tại bản tự khai ngày 20/7/2021, chị Phạm Thị L - là con của bà T và ông L trình bày xác định: Bà T, ông L có mâu thuẫn bất đồng từ lâu và đã ly thân với nhau nhiều năm nay. Chị không mong muốn bố mẹ chị ly hôn và mong muốn bố mẹ hòa thuận chung sống cùng nhau, nhƣng nếu bố mẹ chị cứ cƣơng quyết ly hôn quan điểm của chị đó là quyền quyết định của bố mẹ chị.

- Tại biên bản xác minh với trƣởng khu dân cƣ số 5 T, phƣờng P xác định: Bà T, ông L mâu thuẫn, bất đồng từ rất lâu rồi. Nguyên nhân cụ thể thì khu dân cƣ không nắm đƣợc. Chỉ biết là bà T đi lao động ở nƣớc ngoài nhiều năm. Năm 2016, bà T về nƣớc nhƣng vợ chồng tiếp tục mâu thuẫn nên năm 2017, bà T lại sang Ma Cao – Trung Quốc lao động tiếp. Đến tháng 5/2021, bà T hết hạn lao động và về nƣớc nhƣng vợ chồng vẫn không chung sống cùng nhau. Nay bà T xin ly hôn ông L, quan điểm của khu dân cƣ là đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết theo quy định pháp luật.

Tại phiên toà:

Bà T vắng mặt có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.

Ông L trình bày giữ nguyên quan điểm nêu trên và đề nghị Tòa án hoãn phiên tòa để triệu tập có mặt cả bà T.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử kể từ thời điểm thụ lý vụ án đến trƣớc thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân theo đúng quy định của pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án. Nguyên đơn, bị đơn chấp hành đúng các quy định của pháp luật khi tham gia tố tụng. Về đƣờng lối giải quyết đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Luật phí và lệ phí; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho bà Nguyễn Thị T đƣợc ly hôn ông Phạm Văn L. Về con chung: 02 con chung là Phạm Thị L1, sinh ngày 07/01/1984 và Phạm Thị L, sinh ngày 18/5/1989 đều đã trƣởng thành, khỏe mạnh bình thƣờng, do vậy không đặt ra giải quyết. Về quan hệ tài sản chung: Không đặt ra việc xem xét, giải quyết. Về án phí: Bà T phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm ly hôn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đƣợc thẩm tra tại phiên tòa, nghe ý kiến của đƣơng sự và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn đã đƣợc Tòa án tống đạt hợp lệ Quyết định đƣa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn, giấy triệu tập đến tham gia tố tụng tại phiên tòa. Bà T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự xét xử vắng mặt nguyên đơn.

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Bà T, ông L đều đăng ký hộ khẩu thƣờng trú tại khu dân cƣ số 5 T, phƣờng P, thành phố C, tỉnh Hải Dƣơng. Bà T khởi kiện xin ly hôn ông L. Do vậy, đây là vụ án về ly hôn. Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh thụ lý giải quyết vụ án là đúng với thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị T và ông Phạm Văn L kết hôn với nhau ngày 20/4/1984 trên cơ sở tự nguyện, đảm bảo các điều kiện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn P, huyện C (nay là phƣờng P, thành phố C). Do vậy, hôn nhân của bà T, ông L là hợp pháp. Sau khi kết hôn một thời gian, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính cách không hợp, thƣờng hay bất đồng, không tin tƣởng nhau, dẫn đến vợ chồng thƣờng hay xảy ra cãi vã, xô xát. Vợ chồng chính thức sống ly thân và không quan tâm đến nhau từ năm 2017. Hội đồng xét xử thấy rằng việc bà T, ông L không thƣơng yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện công việc gia đình, cũng không sống chung với nhau, đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt đƣợc. Do vậy, căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, cần chấp nhận yêu cầu của bà T xin ly hôn ông L.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Phạm Thị L1, sinh ngày 07/01/1984 và Phạm Thị L, sinh ngày 18/5/1989. Hiện tại, cả hai con chung đều đã trƣởng thành, khỏe mạnh và đã lập gia đình riêng. Bà T, ông L không yêu cầu Tòa án giải quyết, do vậy, không đặt ra việc xem xét, giải quyết việc nuôi con chung.

Về quan hệ tài sản: Bà T, ông L không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra việc xem xét, giải quyết.

Về án phí: Bà T là nguyên đơn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Luật phí và lệ phí; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Luật phí và lệ phí; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho Bà Nguyễn Thị T đƣợc ly hôn ông Phạm Văn L.

2. Về con chung: 02 con chung là Phạm Thị L1, sinh ngày 07/01/1984 và Phạm Thị L, sinh ngày 18/5/1989 đều đã trƣởng thành, khỏe mạnh bình thƣờng, do vậy, không đặt ra xem xét, giải quyết.

3. Về án phí: Bà Nguyễn Thị T phải nộp 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm ly hôn, đƣợc đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ mà bà T đã nộp theo biên lai thu số: AA/2018/0002928 ngày 06/7/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dƣơng. Bà T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nguyên đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc kể từ ngày bản án đƣợc niêm yết./.

Cỡ chữ