vanban.org

Bản án 39/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ vợ chồng: Xử cho chị Trịnh Thị O được ly hôn anh Hoàng Văn Nh.

Về con chung: Giao con chung Hoàng Trịnh Thùy Dương, sinh ngày 07-5-2017 cho chị O trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về cấp dưỡng nuôi con chung anh chị tự giải quyết. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án xin ly hôn vì mâu thuẫn gia đình"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ vợ chồng: Xử cho chị Trịnh Thị O được ly hôn anh Hoàng Văn Nh.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĨNH BẢO
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 39/2021/HNGĐ-ST
Ngày 25-6-2021
V/v ly hôn và tranh chấp nuôi
con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH BẢO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đỗ Văn Vinh

Các Hội thẩm nhân dân:

- Bà Nguyễn Thị Tâm;

- Bà Phạm Thị Khanh;

-Thư ký phiên toà: Ông Vũ Viết Hoàn - Thư ký Toà án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Bảo tham gia phiên toà: Ông Phạm Minh Hoàng - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 6 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Vĩnh Bảo xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 392/2020/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 12 năm 2020 về việc “ly hôn và tranh chấp nuôi con”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33/2021/QĐXXST - HNGĐ ngày 14 tháng 5 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 35/2021/QĐST - HNGĐ ngày 14 tháng 6 năm 2021 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Trịnh Thị O; trú tại: Thôn 2, xã Gi B, huyện V B, thành phố Hải Phòng. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

Bị đơn: Anh Hoàng Văn Nh; trú tại: Thôn 2, xã Gi B, huyện V B, thành phố Hải Phòng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn chị Trịnh Thị O trình bày: Chị và anh Hoàng Văn Nh kết hôn với nhau tự nguyện tại Uỷ ban nhân dân xã Triệu Thành, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa vào ngày 03 tháng 11 năm 2016. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hoà thuận, hạnh phúc được thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống. Mâu thuẫn của vợ chồng đã được gia đình động viên khuyên giải nhiều lần nhưng không có kết quả. Hiện vợ chồng đã sống ly thân, mỗi người một nơi, không quan tâm đến nhau. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng không thể hàn gắn được, chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Hoàng Văn Nh.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Hoàng Trịnh Thùy Dương, sinh ngày 07-5-2017. Hiện nay đang ở với chị O. Nếu ly hôn, chị đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Về cấp dưỡng nuôi con chị xin tự giải quyết với anh Nh.

Về tài sản chung: Vợ chồng không có.

Bị đơn anh Hoàng Văn Nh hiện cư trú tại thôn 2, xã Gi B, huyện V B, thành phố Hải Phòng. Anh Nh đã được tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án hợp lệ, tuy nhiên anh Nh không nộp bản tự khai và cố tình không đến Tòa án để làm việc. Tòa án đã tiến hành xác minh thu thập chứng cứ: Xác minh nơi cư trú của anh Hoàng Văn Nh, tình trạng mâu thuẫn vợ chồng giữa chị O và anh Nh qua chính quyền địa phương và qua người làm chứng.

Tại phiên tòa kiểm sát viên phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng như sau: Trong quá trình giải quyết vụ án thẩm phán, hội đồng xét xử, thư ký đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về thẩm quyền giải quyết vụ án, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp, thu thập chứng cứ cũng như các hoạt động tố tụng khác. Nguyên đơn đã chấp hành nghiêm yêu cầu của Tòa án về việc cung cấp chứng cứ và các hoạt động tố tụng khác theo đúng quy định của pháp luật, bị đơn chấp hành chưa nghiêm. Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình xử cho chị Trịnh Thị O được ly hôn với anh Hoàng Văn Nh. Về con chung: Giao con chung Hoàng Trịnh Thùy Dương, sinh ngày 07-5-2017 cho chị O trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về cấp dưỡng nuôi con anh chị tự giải quyết. Tài sản chung không xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng: Anh Hoàng Văn Nh có đăng ký hộ khẩu thường trú tại xã Gi B, huyện V B, thành phố Hải Phòng. Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án ly hôn và tranh chấp nuôi con giữa chị Trịnh Thị O và anh Hoàng Văn Nh thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng. Chị Trịnh Thị O có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Hoàng Văn Nh hai lần vắng mặt tại phiên tòa không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt chị Trịnh Thị O và anh Hoàng Văn Nh.

. Về quan hệ vợ chồng: Quan hệ vợ chồng giữa chị Trịnh Thị O và anh Hoàng Văn Nh phát sinh từ ngày 03-11-2016, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Triệu Thành, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc được thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống. Nay chị O xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị O yêu cầu được ly hôn. Quá trình giải quyết vụ án anh Nh không khai báo, không tham gia các hoạt động tố tụng của Tòa án. Qua xác minh tại địa phương thấy vợ chồng có mâu thuẫn. Hiện vợ chồng đã sống ly thân, mỗi người một nơi, không quan tâm đến nhau. Điều đó chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt. Do đó có căn cứ để xử cho chị Trịnh Thị O được ly hôn với anh Hoàng Văn Nh theo Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

. Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Hoàng Trịnh Thùy Dương, sinh ngày 07-5-2017 . Ly hôn, chị O đề nghị giao con chung cho chị trực tiếp nuôi dưỡng, anh Nh không có quan điểm về con. Tòa xét, con chung đang ở với chị O được chị O chăm sóc, nuôi dưỡng tốt. Chị O có chỗ ở và thu nhập ổn định. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu giải quyết về con của chị O là phù hợp với Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình. Về cấp dưỡng nuôi con hai bên tự giải quyết.

.Về tài sản chung: Không xét giải quyết.

. Về án phí: Chị Trịnh Thị O phải chịu án phí sơ thẩm dân sự về ly hôn là 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình,

Căn cứ Điều 147, 228, 266 Bộ luật Tố tụng dân sự. Điều 6, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ vợ chồng: Xử cho chị Trịnh Thị O được ly hôn anh Hoàng Văn Nh.

2. Về con chung: Giao con chung Hoàng Trịnh Thùy Dương, sinh ngày 07-5-2017 cho chị O trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về cấp dưỡng nuôi con chung anh chị tự giải quyết.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung: Không xét giải quyết.

4. Án phí: Chị Trịnh Thị O phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn. Chị O đã nộp tạm ứng án phí 300.000đ tại Biên lai thu số 17447 ngày 17-12-2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Bảo. Chị O đã nộp đủ án phí.

Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ