vanban.org

Bản án 39/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về bạo lực gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thu N, tuyên xử:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thu N được ly hôn anh Trần Ngọc T. Về con chung: Giao con chung tên Trần Nguyễn Bảo Y, sinh ngày 22/5/2015 cho anh Trần Ngọc T tiếp tục nuôi dưỡng và giao con Trần Hạo T2 sinh ngày 18/12/2016 cho chị Nguyễn Thị Thu N tiếp tục nuôi dưỡng đến trưởng thành. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về bạo lực gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Thu N tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? 1/ Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thu N, tuyên xử:
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂY SƠN
TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 39/2021/HNGĐ-ST
Ngày:
01-9-2020
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY SƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Giang Nam.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Trần Thị Lan.

2. Bà Đào Thị Thanh Phương.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Mỹ Hiệp - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn tham gia phiên tòa:Ông Đặng Công Nam - Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 9 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tây Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 243/2021/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 5 năm 2021 về việc “Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 45/2021/ QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 6 năm 2021, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thu N, sinh năm 1994 (vắng mặt, có đơn yêu cầu).

Trú tại: Thôn A, xã B, huyện TS, tỉnh Bình Định.

- Bị đơn: Anh Trần Ngọc T, sinh năm 1991 (Vắng mặt).

Trú tại: Thôn K, xã B, huyện T, tỉnh Bình Định.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện (yêu cầu ly hôn), bản tự khai và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Thu N trình bày:

Chị và anh Trần Ngọc T tự nguyện tìm hiểu, yêu thương nhau được gia đình hai bên chấp nhận tiến hành tổ chức lễ cưới theo phong tục nhưng không nhớ rõ ngày tháng năm; có đăng ký kết hôn tại UBND xã B vào ngày 26/12/2013. Sau khi cưới vợ chồng chung sống hạnh phúc được 04 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân anh T không lo làm làm ăn mà cờ bạc rượu chè về gây sự đánh đập chị. Vì con nhỏ chị vẫn chịu đựng chung sống nhưng đến đầu năm 2021 thì không chấp nhận được nữa, vợ chồng cắt đứt quan hệ phần ai nấy sống, bỏ mặc không quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Nay xét thấy vợ chồng không còn tình cảm yêu thương gì chị yêu cầu ly hôn anh Trần Ngọc T.

- Về con chung: chị và anh Trần Ngọc T có 02 con chung tên Trần Nguyễn Bảo Y, sinh ngày 22/5/2015 và Trần Hạo T1 sinh ngày 18/12/2016; con Trần Nguyễn Bảo Y hiện do anh T đang nuôi dưỡng chăm sóc, chị đang nuôi dưỡng chăm sóc con Trần Hạo T1. Khi ly hôn, chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung Trần Hạo T1 đến trưởng thành và giao con Trần Nguyễn Bảo Y cho anh Trần Ngọc T tiếp tục nuôi dưỡng chăm sóc đến trưởng thành. Hai bên không bên nào cấp dưỡng cho bên kia nuôi.

- Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa giải quyết.

Tại phiên Tòa hôm nay, bị đơn anh Trần Ngọc T vắng mặt không có lý do: Anh Trần Ngọc T đã được tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, giấy triệu tập, Quyết định xét xử nhưng vẫn vắng mặt, không cung cấp lời khai và yêu cầu đối với vụ án.

Biên bản xác minh ngày 22/5/2021 Công an xã B cung cấp: anh Trần Ngọc T có đăng ký hộ khẩu thường trú tại đội X, thôn K, xã B, huyện T, tỉnh Bình Định theo hộ khẩu của cha ruột là Trần Văn T2; anh T đi làm ăn xa thỉnh thoảng vẫn về địa phương sinh sống; chưa làm thủ tục chuyển khẩu cắt khẩu đi nơi khác.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn phát biểu ý kiến: Việc tuân thủ pháp luật tố tụng của Thư ký, Thẩm phán, HĐXX từ khi Tòa thụ lý đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án đúng theo quy định pháp luật (tuy nhiên có vi phạm thời hạn thụ lý đơn, thời hạn chuyển hồ sơ và Quyết định đưa vụ án ra xét xử); việc chấp hành pháp luật tố tụng của nguyên đơn là đúng theo quy định; bị đơn chưa chấp hành đúng theo quy định.

Về nội dung vụ án: Vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị HĐXX căn cứ Điều 147, Điều 228, Điều 238, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015; áp dụng các Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 tuyên xử: Chị Nguyễn Thị Thu N được ly hôn anh Trần Ngọc T; về con chung: giao con chung là Trần Hạo T1 sinh ngày 18/12/2016 cho chị Nguyễn Thị Thu N được tiếp tục nuôi dưỡng chăm sóc đến trưởng thành; giao con chung Trần Nguyễn Bảo Y, sinh ngày 22/5/2015 cho anh Trần Ngọc T nuôi dưỡng chăm sóc đến trưởng thành. Về cấp dưỡng nuôi con: không yêu cầu nên miễn xét; về tài sản chung: không yêu cầu Tòa giải quyết nên miễn xét. Án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Thu N có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn là anh Trần Ngọc T vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thu N và anh Trần Ngọc T kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã B vào ngày 26/12/2013 đúng theo quy định tại các Điều 8, 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp.

Sau khi cưới, chị N, anh T chung sống đến đầu năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh T không lo làm làm ăn mà cờ bạc rượu chè về gây sự đánh đập chị N. Vì con nhỏ chị vẫn chịu đựng chung sống nhưng tình hình không tiến triển. Đến đầu năm 2021 thì vợ chồng đã cắt đứt quan hệ phần ai nấy sống, bỏ mặc không quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Xét thấy mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, việc chị N yêu cầu ly hôn anh T là phù hợp nên HĐXX chấp nhận.

Về con chung: chị Nguyễn Thị Thu N và anh Trần Ngọc T có 02 con chung tên Trần Nguyễn Bảo Y (nữ), sinh ngày 22/5/2015 (hiện do anh T đang nuôi dưỡng chăm sóc) và con Trần Hạo T2 (nam) sinh ngày 18/12/2016 (chị N đang nuôi dưỡng chăm sóc). Để ổn định cuộc sống cho 02 con chung, đảm bảo sự phát triển toàn diện về thể chất và tinh thần cho trẻ, áp dụng quy định tại các Điều 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, nghị nên chấp nhận yêu cầu của chị N: giao con chung Trần Nguyễn Bảo Y cho anh T tiếp tục nuôi dưỡng chăm sóc đến trưởng thành và giao con Trần Hạo T2 cho chị Nguyễn Thị Thu N nuôi dưỡng chăm sóc đến trưởng thành.

Về tiền cấp dưỡng nuôi con: chị Ngân không yêu cầu nên miễn xét.

Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét.

Về án phí ly hôn sơ thẩm: Căn cứ Khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội thì chị Nguyễn Thị Thu N phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ theo biên lai số 0006828 ngày 21/5/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tây Sơn; chị N đã nộp đủ án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 238; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng các Điều 8, 9, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình 2014;

Áp dụng Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

1/ Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thu N, tuyên xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thu N được ly hôn anh Trần Ngọc T.

- Về con chung: Giao con chung tên Trần Nguyễn Bảo Y, sinh ngày 22/5/2015 cho anh Trần Ngọc T tiếp tục nuôi dưỡng và giao con Trần Hạo T2 sinh ngày 18/12/2016 cho chị Nguyễn Thị Thu N tiếp tục nuôi dưỡng đến trưởng thành.

Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu nên miễn xét.

Bên không trực tiếp nuôi con nhưng vẫn có quyền thăm nom, giúp đỡ con chung, không ai có quyền ngăn cản. Vì lợi ích của con, khi cần thiết các bên đều có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết nên miễn xét.

2/ Về án phí ly hôn sơ thẩm:

Nguyễn Thị Thu N phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ - tạm ứng án phí đã nộp trước theo biên lai số 0006828 ngày 21/5/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tây Sơn; chị N đã nộp đủ án phí.

3/ Các bên đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết Bản án.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ