- Tranh chấp gì? án hành chính — "QUYẾT ĐỊNH GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lâm Văn K.
- Căn cứ chính? Điều 165 Luật Tố tụng hành chính; Điều 193 Luật Tố tụng hành chính; Điều 116 Luật Tố tụng hành chính
| tßa ¸n nh©n d©n tØnh kiªn giang | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 39/2021/HC-ST Ngày:15-7-2021 V/v Khiếu kiện quyết định giải quyết khiếu nại và hành vi hành chính không lập phương án bồi thường, hỗ trợ. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Thu
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Thái Ngọc Minh
2. Bà Đào Thị Kim Loan
- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Minh Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Chiêm Văn Hùng - Kiểm sát viên.
Trong ngày 15 tháng 7 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm vụ án thụ lý số: 60/2019/HC-ST ngày 09 tháng 4 năm 2019 về “Khiếu kiện quyết định bồi thường, hỗ trơ sau khi thu hồi đất”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 55/2021/QĐXXST-HC ngày 01 tháng 7 năm 2021, giữa các đương sự:
Người khởi kiện: Ông Lâm Văn K, sinh năm 1945.
Địa chỉ: số 736/8, đường Lâm Quang Ky, phường C, thành phố D, tỉnh Kiên Giang.
Người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện: Ông Nguyễn Chí N, sinh năm 1986 (vắng mặt, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt).
Địa chỉ: khu phố 1, phường C, thành phố D, tỉnh Kiên Giang.
Người bị kiện:
1. Ủy ban nhân dân thành phố D, tỉnh Kiên Giang.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Thanh V, chức vụ: Chủ tịch UBND thành phố D, tỉnh Kiên Giang.
2. Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố D, tỉnh Kiên Giang.
Người đại diện theo ủy quyền của người bị kiện: Ông Nguyễn Văn H, chức vụ: Phó Chủ tịch UBND thành phố D, tỉnh Kiên Giang (vắng mặt, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt).
Cùng địa chỉ: số 38, đường Lê Lợi, phường C, thành phố D, tỉnh Kiên Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ kiện, người khởi kiện bà Lâm Văn K và người đại diện ông Nguyễn Chí N trình bày:
Ông Lâm Văn K có diện tích 975,84 m2 đất nông nghiệp thuộc thửa số 17 và 86, tờ bản đồ số 96, tọa lạc tại khu phố 6, phường C, thành phố D, tỉnh Kiên Giang.
Ngày 15/12/2017 Ủy ban nhân dân thành phố D ban hành Quyết định số 697/QĐ-UBND thu hồi diện tích đất nêu trên của ông K để thực hiện công trình xây dựng đường và dãy nhà ở dọc theo đường 3/2 tạ phường C, thành phố D. Tại Quyết định này Ủy ban nhân dân thành phố D xác định đất của ông K có 620,25m2 là đất nông nghiệp trồng cây lâu năm và 355,59m2 là đất Nhà nước quản lý.
Ngày 18/12/2017 Ủy ban nhân dân thành phố D ban hành Quyết định số 634/QĐ-UBND bồi thường hỗ trợ cho ông K đối với diện tích đất 620,25m2 với tổng số tiền 1.342.519.300 đồng. Còn lại diện tích đất 355,59m2 Ủy ban nhân dân thành phố D không bồi thường.
Ông K không đồng ý với quyết định bồi thường nên làm đơn khiếu nại gửi đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố D.
Ngày 31/7/2018 Chủ tịch UBND thành phố D ban hành quyết định số 130/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại của ông K, có nội dung không chấp nhận khiếu nại của ông K.
Ông K nhận thấy UBND thành phố D thu hồi đất của gia đình ông để phục vụ cho mục đích công cộng nhưng không bồi thường là không chưa phù hợp với quy định của pháp luật.
Nay ông khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết các vấn đề sau:
1. Hủy một phần Quyết định số 697/QĐ-UBND ngày 15/12/2017 của Ủy ban nhân dân thành phố D về việc thu hồi đất, cụ thể phần có diện tích 355,59m2 là đất Nhà nước quản lý.
2. Hủy quyết định số 130/QĐ-UBND ngày 31/7/2018 của Chủ tịch UBND thành phố D về việc giải quyết khiếu nại của ông K.
3. Buộc UBND thành phố D ban hành quyết định bồi thường, hỗ trợ theo đúng qui định của pháp luật đối với diện tích đất 355,59m2 cho ông K.
Tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và đối thoại ngày 18/6/2021 và văn bản ngày 22/6/2021 ông Nguyễn Chí N đại diện cho ông K xác định lại yêu cầu khởi kiện của ông K như sau:
Hủy quyết định số 130/QĐ-UBND ngày 31/7/2018 của Chủ tịch UBND thành phố D về việc giải quyết khiếu nại của ông K.
Buộc UBND thành phố D ban hành quyết định bồi thường, hỗ trợ theo đúng qui định của pháp luật đối với diện tích đất 355,59m2 cho ông K.
Rút các yêu cầu khởi kiện theo đơn khởi kiện.
Trong quá trình giải quyết vụ kiện đại diện UBND thành phố D trình bày:
Ngày 30/12/2016 của UBND tỉnh Kiên Giang ban hành Quyết định số 3037/QĐ-UBND về việc phê duyệt kế hoạch sử dụng đất năm 2017 của thành phố Rạch Gía.
Ngày 08/8/2017 UBND tỉnh Kiên Giang ban hành Công văn số 1252/UBND-KTCN về việc thực hiện bổ sung danh mục Dự án cần thu hồi đất năm 2017 đối với Dự án chỉnh trang đô thị xây dựng dãy nhà dọc đường 3 tháng 2, phường C, thành phố D, tỉnh Kiên Giang.
Ngày 15/12/2017 UBND thành phố D ban hành Quyết định số 697/QĐ-UBND về việc thu hồi đất của ông Lâm Văn K.
Ngày 18/12/2017 UBND thành phố D ban hành Quyết định số 643/QĐ-UBND về việc bồi thường, hỗ trợ cho ông Lâm Văn K.
Ông K không đồng ý với quyết định bồi thường nên làm đơn khiếu nại đến Chủ tịch UBND thành phố D.
Ngày 31/7/2018 Chủ tịch UBND thành phố Rạch Gía ban hành Quyết định số 130/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại của ông Lâm Văn K.
Việc UBND thành phố D và Chủ tịch UBND thành phố D thực hiện thu hồi đất; bồi thường, hỗ trợ và giải quyết khiếu nại đối với ông Lâm Văn K là đúng theo qui định của pháp luật, đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo qui định của pháp luật.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
Đại diện người khởi kiện, đại diện người bị kiện đều có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội thẩm nhân nhân,Thư ký Tòa án, việc tuân theo pháp luật của những người tham gia tố tụng và ý kiến về việc giải quyết vụ án:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội thẩm nhân nhân, Thư ký Tòa án; việc tuân theo pháp luật của những người tham gia tố tụng là đúng quy định của Luật tố tụng hành chính.
Về nội dung: Qua xem xét tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, xét thấy yêu cầu khởi kiện của ông Lâm Văn K là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 165; điểm b khoản 3 Điều 193 Luật Tố tụng hành chính:
Đình chỉ yêu cầu hủy một phần Quyết định số 697/QĐ-UBND ngày 15/12/2017 của Ủy ban nhân dân thành phố D về việc thu hồi đất.
Hủy Quyết định số 130/QĐ-UBND ngày 31/7/2018 của Chủ tịch UBND thành phố D về việc giải quyết khiếu nại đối với ông Lâm Văn K.
Buộc UBND thành phố D ban hành quyết định bồi thường, hỗ trợ theo đúng qui định của pháp luật đối với diện tích đất 355,59m2 cho ông Lâm Văn K.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ kiện được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
. Về thẩm quyền thụ lý và giải quyết vụ án:
Ông Lâm Văn K yêu cầu Tòa án hủy Quyết định số 130/QĐ-UBND ngày 31/7/2018 của Chủ tịch UBND thành phố D về việc giải quyết khiếu nại và buộc UBND thành phố D ban hành quyết định bồi thường, hỗ trợ theo đúng qui định của pháp luật đối với diện tích đất 355,59m2 cho ông K là khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý nhà nước về đất đai nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang theo quy định tại Điều 30, 32 của Luật Tố tụng hành chính.
Thời hiệu khởi kiện:
Ngày 20/3/2019 ông Lâm Văn K nộp đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy Quyết định số 130/QĐ-UBND ngày 31/7/2018 của Chủ tịch UBND thành phố D về việc giải quyết khiếu nại đối với ông K. Kể từ ngày ông nhận được Quyết định giải quyết khiếu nại cho đến ngày nộp đơn khởi kiện tại Tòa án chưa hết một năm là còn thời hiệu khởi kiện theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 116 Luật Tố tụng hành chính.
. Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa sơ thẩm ông Nguyễn Chí N là người đại diện cho ông K, ông Nguyễn Văn Hôn là người đại diện cho UBND thành phố D và Chủ tịch UBND thành phố D đều có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt nên Hội đồng xét xử vắng mặt người khởi kiện, người bị kiện theo qui định tại Điều 158 Luật Tố tụng Hành chính.
Về nội dung vụ án:
Thẩm quyền ban hành quyết định bị kiện:
Quyết định số 130/QĐ-UBND ngày 31/7/2018 của Chủ tịch UBND thành phố D là quyết định giải quyết khiếu nại nên Chủ tịch UBND thành phố D ban hành đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 18 Luật Khiếu nại.
Xét nội dung của Quyết định giải quyết khiếu nại:
Ngày 15/12/2017 Ủy ban nhân dân thành phố D ban hành Quyết định số 978/QĐ-UBND thu hồi diện tích đất nêu trên của ông K để thực hiện công trình xây dựng đường và dãy nhà ở dọc theo đường 3 tháng 2 tại phường An Hòa, thành phố D. Về nguồn gốc đất này do ông Lâm Văn K tự khai phá và quản lý sử dụng từ năm 1987, dùng để cất nhà ở và trồng hoa màu, tại thời điểm thu hồi đất ông K chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất đang khiếu kiện.
Sau khi thu hồi đất UBND thành phố D chỉ bồi thường cho ông K diện tích đất 620,25m2, diện tích đất còn lại trong Quyết định thu hồi đất ghi là đất Nhà nước quản lý nên ông K không được bồi thường.
Tại biên bản tiếp cận công khai chứng cứ ngày 18/6/2021 đại diện UBND thành phố D xác định diện tích đất 355,59m2 của ông K không được xem xét bồi thường, hỗ trợ là đất nông nghiệp.
Tại biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 21/8/2021 xác định trên diện tích đất ông K đang khiếu kiện có 03 cây dừa, 02 cây cao, 01 cây xanh … cùng mục đích sử dụng như diện tích đất đã được bồi thường.
UBND thành phố D không đưa ra được tài liệu, chứng cứ chứng minh cho việc Nhà nước quản lý như thế nào đối với diện tích đất này trước khi có quyết định thu hồi đất.
Căn cứ biên bản đo đạc kiểm kê diện tích đất đai, vật kiến trúc, cây trồng, hoa màu ngày 04/5/2017 của Ban bồi thường giải phóng mặt bằng của UBND thành phố D xác nhận, diện tích đất 355,59m2 của ông K có nguồn gốc do ông khai khẩn sử dụng từ năm 1987 cho đến nay.
Như vậy, có căn cứ để xác định diện tích đất 975,84 m2 (trong đó có diện tích đất 355,59m2 ông K khởi kiện) tọa lạc tại phường An Hòa, thành phố D có quá trình sử dụng đất trước ngày 01/7/2004, không có tranh chấp với ai.
Diện tích đất 355,59m2 của ông K chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tuy nhiên căn cứ khoản 2 Điều 77 Luật đất đai năm 2013 qui định “ Đối với đất nông nghiệp đã sử dụng trước ngày 01/7/2004 mà người sử dụng đất là hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp nhưng không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo qui định của luật này thì được bồi thường đối với diện tích đất thực tế sử dụng” như vậy, trường hơp của ông K đủ điều kiện để được xem xét bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất; phù hợp theo qui định tại Điều 13 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày15/5/2014 qui định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai.
UBND thành phố D thu hồi đất của ông K diện tích 975,84 m2 nhưng chỉ bồi thường, hỗ trợ diện tích 620,25m2, còn diện tích 355,59m2 không bồi thường, hỗ trợ cho ông K là trái quy định của pháp luật, vì vậy cần phải hủy Quyết định số 130/QĐ-UBND ngày 31/7/2018 của Chủ tịch UBND thành phố D về việc giải quyết khiếu nại.
Ông K không yêu cầu giải quyết khiếu nại lại nên không cần thiết kiến nghị Chủ tịch UBND thành phố D ban hành quyết định giải quyết khiếu nại lại.
Trong quá trình giải quyết vụ kiện ông K đã rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với yêu cầu hủy một phần Quyết định số 697/QĐ-UBND ngày 15/12/2017 của Ủy ban nhân dân thành phố D về việc thu hồi đất nên Hội đồng xét xử đình chỉ yêu cầu này cùa ông K.
Từ những nhận định trên sau khi thảo luận, Hội đồng xét xử nghị nên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lâm Văn K và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát; Hủy quyết định số 130/QĐ-UBND ngày 31/7/2018 của Chủ tịch UBND thành phố D về việc giải quyết khiếu nại của ông K.
Buộc UBND thành phố D ban hành quyết định bồi thường, hỗ trợ theo đúng qui định của pháp luật đối với diện tích đất 355,59m2 cho ông K.
Đình chỉ yêu cầu khởi kiện bổ sung, đối với yêu cầu hủy một phần Quyết định số 697/QĐ-UBND ngày 15/12/2017 của Ủy ban nhân dân thành phố D về việc thu hồi đất.
Án phí hành chính sơ thẩm:
UBND thành phố D phải chịu án phí 300.000 đồng; Chủ tịch UBND thành phố D phải chịu án phí 300.000 đồng.
Ông Lâm Văn K thuộc trường hợp được miễn tiền tạm ứng án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ các Điều 30, 32, 116, 158, 164, 165, 193, 194 của Luật Tố tụng hành chính;
- Căn cứ khoản 1 Điều 18 Luật Khiếu nại;
- Căn cứ khoản 2 Điều 77 Luật Đất đai năm 2013;
- Căn cứ Điều 13 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày15/5/2014 qui định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai.
- Căn cứ Nghị Quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lâm Văn K.
- Hủy Quyết định số 130/QĐ-UBND ngày 31/7/2018 của Chủ tịch UBND thành phố D về việc giải quyết khiếu nại của ông Lâm Văn K.
- Buộc UBND thành phố D ban hành quyết định bồi thường, hỗ trợ mới theo đúng qui định của pháp luật đối với diện tích đất 355,59m2 cho ông Lâm Văn K.
- Đình chỉ 1 phần yêu cầu khởi kiện của ông Lâm Văn K, đối với yêu cầu hủy một phần Quyết định số 697/QĐ-UBND ngày 15/12/2017 của Ủy ban nhân dân thành phố D về việc thu hồi đất.
2. Về án phí:
UBND thành phố D phải chịu án phí 300.000 đồng; Chủ tịch UBND thành phố D phải chịu án phí 300.000 đồng.
Ông Lâm Văn K thuộc trường hợp được miễn tiền tạm ứng án phí.
3. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án; đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết./.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - Cục THA dân sự tỉnh Kiên Giang; - VKSND tỉnh Kiên Giang; - Lưu: hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Cẩm Thu |