vanban.org

Bản án 39/2021/DS-ST — Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Huỳnh Vũ P.

Buộc ông Lê Văn C và bà Võ Thị G trả cho anh P số tiền là 75.000.000 đồng (bảy mươi lăm triệu đồng). Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của anh P cho đến khi thi hành án xong khoản tiền, thì hàng tháng ông C, bà G còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Tranh chấp hụi"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Huỳnh Vũ P.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 39/2021/DS-ST
Ngày 31 – 3 – 2021
V/v tranh chấp hụi

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Càn.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đặng Hữu Thọ

Ông Nguyễn Văn Hiển.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Ánh Hồng là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau.

Ngày 31 tháng 3 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 72/2021/TLST-DS ngày 17 tháng 02 năm 2021 về việc “Tranh chấp hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 104/2021/QĐXXST-DS ngày 08 tháng 3 năm 2021, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Huỳnh Vũ P, sinh năm 1984; cư trú tại: Ấp T, xã T1, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

- Bị đơn:

1. Ông Lê Văn C; cư trú tại: Ấp N, xã Tr, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

2. Bà Võ Thị G; cư trú tại: Ấp N, xã Tr, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án của anh Huỳnh Vũ P, thể hiện:

Anh P tham gia các dây hụi do ông Lê Văn C và bà Võ Thị G làm đầu thảo và hiện các dây hụi đã mãn, gồm:

- Dây hụi thứ nhất: Mở ngày 20/6/2018 gồm 230 phần, loại 20.000 đồng/ngày, anh P tham gia 20 phần và góp hụi được 189 lần thì ông C, bà G đình hụi với số tiền 75.600.000 đồng.

- Dây hụi thứ ba: Mở ngày 20/10/2018 gồm 188 phần, loại 20.000 đồng/ngày, anh P tham gia 10 phần và góp hụi được 72 lần thì ông C, bà G đình hụi với số tiền 14.400.000 đồng.

Ngoài ra, anh P mua dây hụi mở ngày 20/10/2018, gồm 188 phần, loại 20.000 đồng/ngày với tổng số tiền là 15.000.000 đồng.

Sau khi đối trừ, thì ông C, bà G làm giấy tính tiền thì tổng số tiền còn thiếu là 105.000.000 đồng. Sau đó, ông C, bà G đã trả được tổng số tiền 30.000.000 đồng (vào ngày 16/02/2019 số tiền 10.000.000 đồng, ngày 16/3/2019 số tiền 2.000.000 đồng và ngày 21/4/2019 số tiền 18.000.000 đồng) thì không tiếp tục thực hiện. Do vậy, anh P khởi kiện yêu cầu ông C, bà G trả lại số tiền hụi còn thiếu là 75.000.000 đồng.

* Đối với ông Lê Văn C và và Võ Thị G: Mặc dù đã được tống đạt hợp lệ về Thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng đối với yêu cầu khởi kiện của anh P nhưng các đương sự không có ý kiến gì và cũng không tham gia hòa giải, xét xử.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Anh Huỳnh Văn P có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; ông Lê Văn C và bà Võ Thị G đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với các đương sự này là phù hợp và đúng quy định của pháp luật.

Theo đơn khởi kiện, tờ tường thuật của anh P phù hợp với giấy tính tiền thể hiện ông C, bà G còn thiếu tổng số tiền là 105.000.000 đồng. Anh P thừa nhận ông C, bà G đã trả 03 lần được tổng số tiền 30.000.000 đồng. Ông C, bà G đã được tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng không có ý kiến gì đối với yêu cầu của anh P nên đây là những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Do đó, anh P yêu cầu ông C, bà G phải trả số tiền còn lại là 75.000.000 đồng là có căn cứ nên được chấp nhận.

Án phí dân sự sơ thẩm: Theo khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì ông C, bà G phải chịu là: 3.750.000 đồng (75.000.000 đồng x 5%).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 2 Điều 92, khoản 1 Điều 147, khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 471 Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Huỳnh Vũ P.

Buộc ông Lê Văn C và bà Võ Thị G trả cho anh P số tiền là 75.000.000 đồng (bảy mươi lăm triệu đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của anh P cho đến khi thi hành án xong khoản tiền, thì hàng tháng ông C, bà G còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.

2. Án phí dân sự sơ thẩm:

- Ông C, bà G phải chịu 3.750.000 đồng (ba triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng) (chưa nộp).

- Anh P không phải chịu. Hoàn trả lại cho anh P số tiền đã nộp tạm ứng là 1.875.000 đồng (một triệu tám trăm bảy mươi lăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0011807 ngày 17/02/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi.

3. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.

Cỡ chữ