- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Phạm Thị Đ - Phan Ngọc H"
- Tòa quyết gì? 326/2014/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Quyết định số 326/2014/QĐ-UBND Về việc sửa đổi, bổ sung Quy…; Bộ luật Dân sự số 33/2005/QH11; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 39/2021/DS-PT Ngày 13 – 4 – 2021 V/v tranh chấp hợp đồng dân sự mua bán tài sản và vay tài sản. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Hữu Nhân
- Các Thẩm phán:
Ông Đỗ Mạnh Hùng
Ông Huỳnh Châu Thạch
- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Phước Minh Phong – Thư ký Tòa án nhân
dân tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa:
Bà Võ Thị Kim Anh – Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 4 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét
xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 25/2021/TLPT-DS ngày 19 tháng 02 năm 2021 về việc: “Tranh chấp hợp đồng dân sự mua bán tài sản và vay tài sản”.
Do Bản án Dân sự sơ thẩm số: 80/2020/DS-ST ngày 28/12/2020 của Tòa
án nhân dân huyện LH bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2021/QĐ-PT ngày 01/3/2021;
Quyết định hoãn phiên tòa số: 23/2021/QĐ-HPT ngày 23/3/2021; Thông báo về việc mở phiên tòa xét xử phúc thẩm số: 183/TB-TA ngày 30/3/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Đ, sinh năm: 1972.
Địa chỉ: Số 13/14 thôn PT, xã HT, huyện ĐT, tỉnh Lâm Đồng.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Nguyễn
Đình H – Công ty TNHH MTV HC thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Đồng Nai.
- Bị đơn: Ông Phan Ngọc H, sinh năm: 1972.
Địa chỉ: Số 11, tổ dân phố VH, thị trấn ĐV, huyện LH, tỉnh Lâm Đồng.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông Phan Ngọc T, sinh năm:
1964.
Địa chỉ: Số 159, tổ 2, tổ dân phố ĐT, thị trấn ĐV, huyện LH, tỉnh Lâm
Đồng.
(Văn bản ủy quyền ngày 17/7/2020).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật sư Nguyễn
Phương Đại N - Văn phòng Luật sư Nguyễn Phương Đại N thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Lâm Đồng.
Do có kháng cáo của: Nguyên đơn bà Phạm Thị Đ và bị đơn ông Phan Ngọc
H.
(Bà Đ, ông T, Luật sư Hải, Luật sư Nghĩa có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và lời trình bày của nguyên đơn bà Phạm Thị Đ thì:
Bà và ông H có quan hệ, từ năm 2015 bà bán phân bón cho ông H nhiều
lần, hai bên thỏa thuận miệng cho nợ từng đơn hàng gối đầu 02 tháng và hạn chót đến 31/12/2015 thanh toán dứt điểm tất cả các khoản nợ. Nhưng ngày đến hạn ông H không trả nợ. Số tiền nợ bán phân bón cho ông H chưa thanh toán chốt đến ngày 05/02/2016 là 7.176.325.000đ.
Do vậy, bà và ông H cùng nhau lập biên bản làm việc ngày 05/02/2016 kèm
theo giấy mượn tiền xác nhận số nợ như trên. Chi tiết giao dịch mua bán cụ thể giữa hai bên như sau:
Từ ngày 14/6/2015 đến ngày 07/12/2015, bà đã giao hàng cho ông H từng
loại phân bón theo thứ tự ngày nhận, số xe chở (số xe này là ông H trực tiếp đăng ký), gồm:
Số Ngày,
lượng tháng
Số xe
Mặt hàng
(Tấn)
Đơn giá
Thành tiền 14/6/2015 49C 01439
NPK 16-7-17 PM
16,000 10.700.000 171.200.000 14/6/2015 60C 12085
NPK 16-7-17 PM
16,000 10.700.000 171.200.000 16/6/2015 49C 05729
NPK 16-7-17 PM
38,000 10.700.000 406.600.000 17/6/2015 49C 08271
NPK 16-7-17 PM
18,500 10.700.000 197.950.000 20/6/2015 TH 6760
NPK 16-7-17 PM
50,000 10.700.000 535.000.000 20/6/2015 49C 07467
NPK 16-7-17 PM
16,500 10.700.000 176.550.000 22/6/2015 49C 07160
Ka li Phú Mỹ
20,000 7.400.000 148.000.000 22/6/2015 49C 06072
NPK 16-16-8 PM
20,000 9.300.000 186.000.000 22/6/2015 49C 07961
Lân Văn điển
14,300 3.400.000
48.620.000 23/6/2015 49C 07653
NPK 17-6-17 VN
20,000 10.600.000 212.000.000 23/6/2015 49X 4810
NPK 16-7-17 PM
17,000 10.700.000 181.900.000 23/6/2015 49C 03924
UREA PM
13,000 8.300.000 107.900.000 23/6/2015 49C 03924
Ka li Phú Mỹ
6,000
7.800.000
46.800.000 23/6/2015 51C 25198 NPK 16-16-16 NGA
17,500 12.800.000 224.000.000 25/6/2015 49C 07078
NPK 17-6-17 VN
20,000 10.600.000 212.000.000 26/6/2015 49C 06072
NPK 16-16-8 PM
22,000 9.300.000 204.600.000 26/6/2015 49C 08271
Ka li Phú Mỹ
20,000 7.400.000 148.000.000 27/6/2015 49C 07961
Lân văn điển
14,300 3.400.000
48.620.000 27/6/2015
Lân văn điển
15,000 3.400.000
51.000.000 28/6/2015 49X 4810
NPK 16-7-17 PM
17,000 10.700.000 181.900.000 28/6/2015 49C 07647
NPK 17-6-17 VN
20,000 10.600.000 212.000.000 28/6/2015 TH 5086
NPK 16-7-17 PM
38,000 10.700.000 406.600.000 30/6/2015 TH 6760
NPK 16-7-17 PM
50,000 10.700.000 535.000.000 30/6/2015 TH 5086
NPK 16-7-17 PM
40,000 10.700.000 428.000.000 30/6/2015 49X 4810
NPK 16-7-17 PM
17,000 10.700.000 181.900.000 30/6/2015 49C 00969
NPK 16-7-17 PM
16,000 10.700.000 171.200.000 01/7/2015 49C 08867
UREA PM
20,000 8.900.000 178.000.000 02/7/2015 TH 6760
NPK 16-7-17 PM
56,000 10.700.000 599.200.000 02/7/2015 TH 5086
NPK 17-6-17 VN
40,000 10.600.000 424.000.000 04/7/2015 TH 6760
NPK 16-7-17 PM
53,000 10.700.000 567.100.000 04/7/2015 TH 5086
NPK 16-7-17 PM
43,000 10.700.000 460.100.000 04/7/2015 49C 07939
NPK 17-6-17 VN
17,000 10.600.000 180.200.000 04/7/2015 49C 07049
NPK 17-6-17 VN
17,000 10.600.000 180.200.000 05/7/2015 49C 04218
NPK 16-7-17 PM
22,000 10.700.000 235.400.000 05/7/2015 49C 07078
NPK 16-7-17 PM
22,000 10.700.000 235.400.000 05/7/2015 49C 07647
NPK 17-6-17 VN
20,000 10.600.000 212.000.000 05/7/2015 49C 07985
NPK 17-6-17 VN
17,000 10.600.000 180.200.000 07/7/2015 49C 07939
NPK 16-7-17 PM
17,000 10.700.000 181.900.000 07/7/2015 49C 07049
NPK 16-7-17 PM
17,000 10.700.000 181.900.000 08/7/2015 49C 07631
NPK 16-7-17 PM
20,000 10.700.000 214.000.000 08/7/2015 49C 08867
UREA PM
30,000 8.500.000 255.000.000 09/7/2015 49C 08819
Ka li Phú Mỹ
20,400 7.400.000 150.960.000 09/7/2015 49C 00969
NPK 16-7-17 PM
20,000 10.700.000 214.000.000 09/7/2015 49X 2449
NPK 16-7-17 PM
15,500 10.700.000 165.850.000 10/7/2015 49C 07631
NPK 16-7-17 PM
25,000 10.700.000 267.500.000 12/7/2015 49C 06936
NPK 16-7-17 PM
16,000 10.700.000 171.200.000 14/7/2015 49C 08867 NPK 16-16-16 NGA
15,000 12.800.000 192.000.000 15/7/2015 49C 07631
NPK 16-7-17 PM
20,000 10.700.000 214.000.000 17/7/2015 49C 04780
NPK 16-7-17 PM
22,000 10.700.000 235.400.000 24/7/2015 49C 08867 NPK 15-15-15 NGA
18,000 10.500.000 189.000.000 25/7/2015 49C 08819
NPK 16-16-8 PM
19,050 9.300.000 177.165.000 27/7/2015 49C 08964
NPK 16-16-8 PM
19,000 9.300.000 176.700.000 28/7/2015 49C 03520
SA NHẬT
15,000 3.950.000
59.250.000 28/7/2015 51C 48601
NPK 16-16-8 PM
20,000 9.300.000 186.000.000 28/7/2015 29C 50696
NPK 16-16-8 PM
17,000 9.300.000 158.100.000 29/7/2015 49C 08867 NPK 15-15-15 NGA
30,000 10.950.000 328.500.000 29/7/2015 49C 07026
NPK 16-16-8 PM
20,000 9.300.000 186.000.000 30/7/2015 49C 00545
NPK 16-16-8 PM
14,000 9.300.000 130.200.000 31/7/2015 49C 08508
NPK 16-16-8 PM
18,000 9.300.000 167.400.000 06/8/2015 49C 08867 NPK 16-16-16 NGA
27,150 12.800.000 347.520.000 12/8/2015 49C 08867 NPK 15-15-15 NGA
20,000 10.950.000 219.000.000 18/8/2015 49C 08867 NPK 16-16-16 NGA
7,500 12.800.000 96.000.000 29/8/2015 49C 09180
UREA PM
20,000 8.050.000 161.000.000 07/12/2015 49C 09180
SA NHẬT
20,000 4.000.000
80.000.000
14.151.885.000
Tổng cộng
(1)
Ngoài ra, năm 2014, ông H cũng có mua phân bón của bà còn nợ lại số tiền
là: 133.910.000đ (2)
Từ ngày 24/6/2015 đến ngày 04/02/2016 ông H trả nợ quá ít, không đúng
cam kết nên phải chuyển lại phân bón để trừ nợ, cụ thể số tiền ông H đã trả và số phân bón ông H đã chuyển giao lại để trừ nợ gồm:
Ngày,
Số lượng
tháng
Số xe
Diển giải
(Tấn)
Đơn giá Thành tiền 24/6/2015
Trả tiền
200.000.000 02/7/2015
Trả tiền
100.000.000 11/7/2015
Trả tiền
150.000.000 15/7/2015
Trả tiền
200.000.000 23/7/2015
Trả tiền
200.000.000
Bù trừ giá Urea (10
tấn)- Do thời điểm giá
bán giá cao nhưng sau
đó giá giảm nên tính trừ 31/7/2015
lại
4.000.000 01/8/2015
Trả tiền
200.000.000 05/8/2015
Trả tiền
100.000.000 17/8/2015
Trả tiền
100.000.000 31/8/2015
Trả tiền
100.000.000
Lấy lại hàng Urea trừ 09/9/2015 49C 09180 nợ
15,000 8.050.000 120.750.000
Lấy lại hàng NPK 16-7-04/10/2015 49c 08867 17PM
35,000 10.700.000 374.500.000
Lấy lại hàng NPK 16-7-04/11/2015 54V 1961 17PM
15,000 10.700.000 160.500.000 06/01/2016
Trả tiền
100.000.000
Lấy lại hàng NPK 16-7-06/01/2016 49c 08867 17PM
35,000 10.700.000 374.500.000
Lấy lại hàng NPK 16-7-08/01/2016 49c 08867 17PM
35,000 10.700.000 374.500.000
Lấy lại hàng NPK 16-7-10/01/2016 49c 08867 17PM
35,000 10.700.000 374.500.000
Lấy lại hàng NPK 16-7-13/01/2016 49c 08867 17PM
35,000 10.700.000 374.500.000
Lấy lại hàng NPK 16-7-13/01/2016 49C 02752 17PM
32,000 10.700.000 342.400.000 13/01/2016
Trả tiền
120.000.000
Lấy lại hàng NPK 16-7-15/01/2016 49c 08867 17PM
35,000 10.700.000 374.500.000
Lấy lại hàng NPK 16-7-15/01/2016 49C 09180 17PM
35,000 10.700.000 374.500.000
Lấy lại hàng NPK 16-7-17/01/2016 49C 09180 17PM
35,000 10.700.000 374.500.000
Lấy lại hàng NPK 16-7-17/01/2016 49c 08867 17PM
35,000 10.700.000 374.500.000
Lấy lại hàng NPK 16-7-21/01/2016 49c 08867 17PM
22,600 10.700.000 241.820.000
Lấy lại hàng NPK 16-7-21/01/2016 49C 09180 17PM
35,000 10.700.000 374.500.000
Lấy lại hàng NPK 17-30/01/2016 49c 08867 6-17VN
35,000 10.600.000 371.000.000 01/02/2016
Trả tiền
100.000.000 04/02/2016
Trả tiền
454.000.000
7.109.470.000
Tổng cộng
(3)
Chốt đến ngày 05/02/2016, số tiền ông H còn nợ lại bà Đ là: (1) + (2) – (3)
= 7.176.325.000đ (4).
Vì khoản nợ của ông H quá hạn thanh toán từ ngày 31/12/2015 nên đến
ngày 05/02/2016 ông H chốt nợ với bà, hai bên viết giấy vay mượn tiền và lập biên bản làm việc ghi nhận ông H còn nợ của bà số tiền 7.273.675.000đ. Tuy nhiên, số nợ chốt lại có chênh lệch 10 tấn phân bón NPK 16-7-17 tương đương số tiền 97.350.000đ nên bà Đ đã trừ khoản chênh lệch này ra cho ông H và số tiền ông H còn nợ bà như bảng tính trên là 7.176.325.000đ và ông H vẫn chưa trả được nợ cho bà.
Trong thời gian từ 30/9/2016 đến ngày 09/01/2019 ông H có trả tiền cho bà
để trừ vào nợ lãi, cụ thể gồm:
Ngày,
tháng
Diễn giải
Thành tiền
Ghi chú 30/9/2016 Ông H trả một phần lãi bằng tiền mặt
300.000.000 30/12/2016 Ông H trả một phần lãi bằng tiền mặt
100.000.000 02/02/2018 Ông H trả một phần lãi bằng chuyển khoản
500.000.000 18/4/2018 Ông H trả một phần lãi bằng chuyển khoản
500.000.000 11/7/2018 Ông H trả một phần lãi bằng chuyển khoản
200.000.000 20/8/2018 Ông H trả một phần lãi bằng chuyển khoản
100.000.000 18/9/2018 Ông H trả một phần lãi bằng chuyển khoản
100.000.000 18/10/2018 Ông H trả một phần lãi bằng chuyển khoản
200.000.000 16/11/2018 Ông H trả một phần lãi bằng chuyển khoản
200.000.000 09/01/2019 Ông H trả một phần lãi bằng chuyển khoản
200.000.000
Tổng cộng
2.400.000.000
Đối với số tiền nợ mua phân bón, khi làm việc ngày 05/02/2016 thì giữa
ông H với bà có thỏa thuận tính lãi 7%/01 năm đối với số tiền gốc 3.000.000.000đ; còn lại 4.176.325.000đ tính lãi 2%/01 tháng. Tuy nhiên, đối chiếu đúng quy định của pháp luật thì số tiền lãi này bà tính lại.
Cụ thể như sau (Trong đó, do ông H chậm thanh toán nợ nên ngày
29/9/2015, bà vay Ngân hàng Agribank chi nhánh xã HT số tiền 3.000.000.000đ với lãi 7%/01 năm để thanh toán nợ phân bón cho nhà cung cấp, khi lập biên bản làm việc ngày 05/02/2016 thì ông H đồng ý trả nợ lãi Ngân hàng cho bà): Cụ thể, quá trình tính lãi và trả lãi tạm tính chi tiết đến ngày ra tòa như sau:
Số
ngày
Ngày vay
Ngày
Diễn giải
Số tiền lãi đả Số tiền lãi đã
Số tiền lãi
thực
tính và
tính theo PL
trả
còn lại (đồng)
tế
trả lãi
tính
(đồng)
(đồng)
lãi
Tính lãi món 3
tỷ theo HĐTD
ngày 29/9/2015 29/9/15
30/9/16 (7%/ năm vay
ngắn hạn)
214.083.333
214.083.333
Số tiền lãi = Số
tiền gốc x 7% /
360 ngày x Số
ngày thực tế vay
Tính lãi món
4.176.325.000đ
vay ngoài theo
khoản 1 điều
476 - BLDS
2005. Số tiền lãi
= Số tiền gốc x 01/01/16
30/9/16 150% của lãi
9
422.852.906
636.936.240
suất cơ bản do tháng
Ngân hàng Nhà
nước công bố
đối với loại cho
vay tương ứng
(Theo điều 1 QĐ
2868/QĐ-
NHNN
ngày
29/11/2010 lãi
vay cơ bản là
9%/ năm) x thời
gian vay
Ông H trả một
300.000.000 336.936.240
phần lãi bằng
30/9/16
tiền mặt
Ông H trả một
236.936.240
phần lãi bằng
30/12/16
100.000.000
tiền mặt
Tính lãi món 3
tỷ theo HĐTD 01/10/16
31/3/18
547
478.625.000
715.561.240
ngày 29/09/2015
ngày
(7%/ năm vay
ngắn hạn)
Số tiền lãi = Số
tiền gốc x 7%/
360 ngày x Số
ngày thực tế vay
x 150%.
Tính lãi món
4.176.325.000 đ
vay ngoài theo
khoản 2 điều 18 01/10/16 31/3/18 468 - BLDS tháng 1.252.897.500
1.968.458.740
2015. Số tiền lãi
= Số tiền gốc x
20%/ năm x thời
gian vay.
Ông H trả một
phần lãi bằng
18/4/18
363.333.334 1.605.125.406
chuyển khoản.
Ông H trả một
phần lãi bằng
11/7/18
200.000.000 1.405.125.406
chuyển khoản.
Ông H trả một
20/8/18
100.000.000 1.305.125.406
phần lãi bằng
chuyển khoản.
Ông H trả một
18/9/18
100.000.000
1.205.125.406
phần lãi bằng
chuyển khoản.
Ông H trả một
18/10/18
200.000.000 1.005.125.406
phần lãi bằng
chuyển khoản.
Ông H trả một
16/11/18
200.000.000 805.125.406
phần lãi bằng
chuyển khoản.
09/01/19
200.000.000
Ông H trả một
605.125.406
phần lãi bằng
chuyển khoản.
Tính lãi món 3
tỷ theo HĐTD
ngày 29/9/2015
(7%/ năm vay
1.017
ngắn hạn)
Ngày
Số tiền lãi = Số 01/04/18 11/01/21 tiền gốc x 7% /
360 ngày x Số
889.875.000
1.495.000.406
ngày thực tế vay
x 150%
Tính lãi món 33 01/04/18 11/01/21 4.176.325.000 đ tháng 2.296.978.750
3.791.979.156
vay ngoài theo
khoản 2 Điều
25.172.370
3.817.151.525
468 - BLDS
2015. Số tiền lãi 11
= Số tiền gốc x ngày
20%/ năm x thời
gian vay.
Tổng cộng
5.580.484.859 1.763.333.334 3.817.151.525
Như vậy, số tiền ông H còn nợ bà cả gốc và lãi tạm tính đến ngày
11/01/2021 là: 7.176.325.000đ (gốc) + 3.817.151.525đ (lãi tạm tính) = 10.993.476.525đ.
Như diễn giải trên thì khoảng tháng 10/2016, ông H có ra gặp bà và nói bà
mượn giúp ông 2.000.000.000đ để lo công việc, sau một tháng ông trả và còn trả thêm phần nợ phân bón cho bà. Tin tưởng, bà cho ông H vay số tiền 2.000.000.000đ với lãi suất 3%/tháng, ông H thế chấp sổ đỏ số CC 219500 đồng sở hữu tên Phan Ngọc H và bà Mai Thị Diễm Thúy.
Trưa ngày 01/11/2016, tại đường Thống nhất, thị trấn Liên Nghĩa, bà giao
tiền cho ông H trên xe ô tô của ông H gồm 4.000 tờ mệnh giá 500.000đ, tổng cộng 2.000.000.000đ và ông H đã ký vào giấy mượn tiền bà đánh máy sẵn ghi ngày 01/11/2016.
Hết 01 tháng (30/11/2016) ông H không trả tiền cho bà như cam kết, đến
ngày 01/12/2017 ông H mới cho ông T và 02 kế toán mang 2.000.000.000đ ra nhà trả cho bà và nhận lại cuốn sổ đỏ đã thế chấp. Ông H đề nghị lấy sổ đỏ lại để vay ngân hàng trả món nợ cũ và lãi món này cho bà.
Như vậy, số tiền này ông H vay từ ngày 01/11/2016 đến 01/12/2017 là 13
tháng. Tính lãi suất theo pháp luật thuộc khoản 5 điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015 như sau:
- Số tiền gốc là 2.000.000.000đ vay từ ngày 01/11/2016 đến 30/11/2016
(Hạn 1 tháng) nhưng tới 01/12/2017 mới trả 2.000.000.000đ. Do đó, lãi trong hạn là 1 tháng còn lãi quá hạn là 12 tháng. Vậy, tổng số tiền ông H phải trả bà tính đến ngày 01/12/2017 theo pháp luật là :
+ Tiền nợ gốc: 2.000.000.000đ.
+ Tiền lãi đúng hạn: 2.000.000.000đ x 20%/ năm x 1 tháng =
33.333.333đ.
+ Tiền lãi trên nợ gốc quá hạn: 2.000.000.000đ x 150% x 20% x 1 năm (12
tháng ) = 600.000.000đ.
+ Tiền lãi trên nợ lãi quá hạn: 33.333.333 x 10% x 1 năm (12 tháng quá
hạn) = 3.333.333đ.
Tổng tiền lãi của món 2.000.000.000đ là: 33.333.333 + 600.000.000 +
3.333.333 = 636.666.666đ.
Như vậy, khoản tiền ông H trả 2.400.000.000đ có một phần trừ nợ lãi vay
số tiền 2.000.000.000đ là 636.666.666đ và phần trừ trả nợ lãi tiền mua phân bón là 1.763.333.334đ.
Nay, bà yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Phan Ngọc H phải trả cho bà số
nợ tính đến ngày 11/01/2021 là 10.993.476.525đ, trong đó số tiền gốc mua phân bón còn nợ là 7.176.325.000đ và tiền lãi là 3.817.151.525đ.
Đại diện bị đơn là ông Phan Ngọc T trình bày: Bản chất thỏa thuận, giao dịch vay, mua bán phân bón giữa ông H và bà Đ cụ thể như thế nào thì ông không rõ. Tuy nhiên, cuối năm 2017, ông được ông H ủy quyền liên hệ với bà Đ để trả tiền vay nhận lại sổ đỏ. Thực tế sự việc này là ông H có giao cho bà Đ sổ đỏ và vay số tiền 2.000.000.000đ, sau đó ông H cho người làm mang số tiền 2.000.000.000đ ra trả nợ vay cho bà Đ và bà Đ giao lại sổ của ông H cho ông, nhưng việc vay tiền không liên quan đến nội dung bà Đ khởi kiện liên quan đến mua bán phân bón trong vụ án này.
Liên quan đến nợ mua bán phân bón thì ông xác định, năm 2015 bà Đ có bán phân bón cho ông H từng lần như bà Đ trình bày trên là đúng, tổng số phân bón ông H mua của bà Đ quy ra thành tiền là 14.151.885.000đ. Tuy nhiên, ông H đã trả tiền và trả phân bón cho bà Đ như bà Đ trình bày tổng cộng là 9.509.470.000đ là đúng (Trong đó, có 7.109.470.000đ và 2.400.000.000đ theo các bảng tính chi tiết như bà Đ trình bày trên là đúng).
Như vậy, ông H còn nợ tiền mua phân bón của bà Đ năm 2015 tính đến nay là: 14.151.885.000đ - 9.509.470.000đ = 4.642.415.000đ.
Ngoài ra, quá trình giao dịch mua bán phân bón trước đó, ông H còn nợ lại bà Đ số tiền là 133.910.000đ.
Như vậy, tính đến nay, ông H còn nợ bà Đ tiền mua phân bón là 4.776.325.000đ (4.642.415.000đ + 133.910.000đ). Ông H không đồng ý trả nợ theo yêu cầu của bà Đ mà chỉ đồng ý trả cho bà Đ số tiền còn nợ là 4.776.325.000đ.
Đối với yêu cầu tính tiền lãi chậm trả của bà Đ thì bị đơn cho rằng, quá trình nợ tiền mua phân bón của bà Đ thì ông H vẫn trả tiền cho bà Đ tính đến ngày 09/01/2019. Do vậy, bị đơn chỉ đồng ý tính tiền lãi chậm trả trên số tiền nợ 4.776.325.000đ từ ngày 10/01/2019 đến nay. Mặt khác, khi chốt nợ là ngày 05/02/2016, bà Đ và ông H không thỏa thuận thời hạn trả nợ cụ thể nên việc bà Đ khởi kiện thì không có cơ sở tính lãi phạt trên số tiền nợ đối với ông H.
Ông H xác định toàn bộ khoản nợ trả đều đã trả vào nợ gốc cho bà Đ, việc bà Đ trình bày trong khoản tiền ông H trả từ ngày 30/9/2016 đến ngày 09/01/2019 tổng số tiền là 2.400.000.000đ thì bà Đ trừ vào tiền lãi của số tiền vay 2.000.000.000đ và số tiền lãi của nợ mua phân bón thì ông H không đồng ý vì số tiền nợ vay 2.000.000.000đ đồng ông H đã trả và nhận lại sổ đỏ là coi như đã xong, không liên quan đến tranh chấp trong vụ án này.
Ngoài ra, theo bà Đ trình bày, các bên thỏa thuận mua bán phân bón cho nợ từng đơn hàng gối đầu 02 tháng và hạn chót đến 31/12/2015 thanh toán dứt điểm tất cả các khoản nợ là không có cơ sở.
Tại Bản án Dân sự sơ thẩm số: 01/2021/DS-ST ngày 11/01/2021 của Tòa
án nhân dân huyện LH. Xử:
Chấp nhận đơn khởi kiện của bà Phạm Thị Đ về việc “Tranh chấp hợp
đồng dân sự mua bán và vay tài sản” với ông Phan Ngọc H.
Buộc ông Phan Ngọc H phải trả cho bà Phạm Thị Đ số tiền nợ liên quan đến giao dịch mua bán phân bón là 9.621.115.776đ (Chín tỷ sáu trăm hai mươi mốt triệu một trăm mười lăm nghìn bảy trăm bảy mươi sáu đồng), trong đó số tiền nợ gốc là 7.176.325.000đ và số tiền nợ lãi là 2.444.970.776đ.
Ngoài ra, Tòa án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo cho các bên
đương sự.
Ngày 20/01/2021, nguyên đơn bà Phạm Thị Đ có đơn kháng cáo yêu cầu
Tòa án cấp phúc thẩm sửa Bản án Dân sự sơ thẩm số: 01/2021/DS-ST ngày 11/01/2021 của Tòa án nhân dân huyện LH về phần lãi suất (chấp nhận toàn bộ lãi suất theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn).
Ngày 20/01/2021, bị đơn ông Phan Ngọc H có đơn kháng cáo toàn bộ Bản
án Dân sự sơ thẩm số: 01/2021/DS-ST ngày 11/01/2021 của Tòa án nhân dân huyện LH.
Tại phiên tòa hôm nay: Nguyên đơn bà Phạm Thị Đ vẫn giữ nguyên kháng cáo và không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Phan Ngọc H.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Phan Ngọc H là ông Phan Ngọc T vẫn giữ nguyên kháng cáo của bị đơn và không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn.
Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn đề nghị Hội
đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, chấp nhận toàn bộ kháng cáo của nguyên đơn.
Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn đề nghị Hội đồng xét
xử không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị đơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng nhận định: Việc chấp
hành pháp luật của Thẩm phán trong quá trình thụ lý và của Hội đồng xét xử tại phiên tòa là đúng pháp luật. Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ kháng cáo của nguyên đơn bà Phạm Thị Đ, chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn ông Phan Ngọc H, sửa Bản án Dân sự sơ thẩm số: 01/2021/DS-ST ngày 11/01/2021 của Tòa án nhân dân huyện LH.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng: Xuất phát từ việc giữa ông H và bà Đ có quan hệ mua bán
phân bón với nhau, đến ngày 05/02/2016 hai bên lập biên bản đối chiếu chốt nợ và ghi thành giấy vay mượn tiền, theo đó ông H còn nợ bà Đ số tiền 7.273.675.000đ. Trong số tiền chốt nợ trên thì bà Đ và ông H có chốt chênh lệch 10 tấn phân bón NPK 16-17-17 tương đương số tiền 97.350.000đ và bà Đ đồng ý trừ lại số tiền tương ứng này cho ông H. Do vậy, các đương sự xác định khoản nợ gốc sau khi chốt lại là 7.176.325.000đ.
Bà Đ cho rằng, khoản nợ đã quá hạn, mặc dù bà đã đòi nhiều lần nhưng ông
H không trả nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết, buộc ông H phải trả cho bà số tiền nợ mua phân bón là 7.176.325.000đ và tiền lãi theo quy định của pháp luật.
Ông H không đồng ý với yêu cầu của bà Đ và cho rằng trong quá trình mua
bán phân bón thì ông đã thanh toán cho bà Đ nhiều lần, hiện nay chỉ còn nợ lại bà Đ số tiền 4.779.325.000đ nên chỉ đồng ý thanh toán cho bà Đ số tiền này và lãi suất chậm trả nên các bên phát sinh tranh chấp. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án này là “Tranh chấp hợp đồng dân sự mua bán tài sản và vay tài sản” là đúng pháp luật.
Về nội dung: Xét kháng cáo của nguyên đơn bà Phạm Thị Đ và kháng
cáo của bị đơn ông Phan Ngọc H thì thấy rằng:
Giữa ông H và bà Đ có thỏa thuận mua bán phân bón với nhau từ năm
2015, tổng các giao dịch mua bán các bên đã thỏa thuận tương ứng số tiền là 14.151.885.000đ. Ngoài ra, thời gian trước đó hai bên cũng có giao dịch mua bán phân bón và ông H còn nợ bà Đ số tiền là 133.910.000đ. Tổng cộng ông H nợ bà Đ số tiền 14.285.795.000đ (14.151.885.000đ + 133.910.000đ) là có trên thực tế và được các bên đương sự thừa nhận.
Trong thời gian giao dịch mua bán với nhau đến ngày 04/02/2016, ông
H có thanh toán tiền mua phân bón cho bà Đ nhưng số tiền thanh toán được quá ít nên ông H đã chuyển trả lại một phần số lượng phân bón đã nhận để trừ trả nợ cho bà Đ. Tổng cộng số tiền mua phân bón và số phân bón trả lại quy ra thành tiền thì ông H đã trả cho bà Đ được là 7.109.470.000đ, như bà Đ trình bày thì người đại diện theo ủy quyền của ông H là ông T thống nhất.
Như vậy, cấn trừ khoản tiền giao dịch mua và khoản đã trả đến ngày
04/02/2016 thì ông H còn nợ lại bà Đ số tiền là: 14.285.795.000đ - 7.109.470.000đ = 7.176.325.000đ.
Ngày 05/02/2016, giữa ông H và bà Đ có lập biên bản làm việc, chốt nợ
và ghi thành giấy vay tiền thể hiện ông H nợ bà Đ số tiền là 7.273.675.000đ (BL 52, 53). Tuy nhiên, số nợ chốt lại có chênh lệch 10 tấn phân bón NPK 16-17-17 tương đương số tiền 97.350.000đ thì bà Đ đồng ý trừ lại cho ông H, và cũng được người đại diện theo ủy quyền của ông H là ông T đồng ý. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xác định số tiền ông H còn nợ bà Đ tính đến ngày 05/02/2016 là 7.176.325.000đ là có căn cứ.
Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, bà Đ
thừa nhận từ ngày 30/9/2016 đến ngày 09/01/2019, ông H có thanh toán cho bà tổng số tiền là 2.400.000.000đ, cụ thể: Ngày 30/9/2016 trả 300.000.000đ; ngày 30/12/2016 trả 100.000.000đ; ngày 02/02/2018 trả 500.000.000đ; ngày 18/4/2018 trả 500.000.000đ; ngày 11/7/2018 trả 200.000.000đ; ngày 20/8/2018 trả 100.000.000đ; ngày 18/9/2018 trả 100.000.000đ; ngày 18/10/2018 trả 200.000.000đ; ngày 16/11/2018 trả 200.000.000đ và ngày 09/01/2019 trả 200.000.000đ.
Người đại diện theo ủy quyền của ông H là ông T cho rằng, toàn bộ số
tiền 2.400.000.000đ ông H trả cho bà Đ như bà Đ trình bày trên thì đều được trả vào khoản nợ gốc nên hiện nay ông H chỉ còn nợ bà Đ tiền mua phân bón là: 7.176.325.000đ – 2.400.000.000đ = 4.776.325.000đ.
Trong khi đó bà Đ không đồng ý với lời trình bày của ông T và cho
rằng, do ngày 01/11/2016, ông H có vay của bà số tiền 2.000.000.000đ, thỏa thuận thời hạn vay 01 tháng, lãi suất thỏa thuận là 3%/tháng, nhưng đến ngày 01/12/2017 ông H mới trả cho bà số tiền nợ vay gốc là 2.000.000.000đ; còn tiền nợ lãi của khoản vay này ông H chưa trả. Do đó, sau này giữa bà với ông H thỏa thuận tính tiền lãi của khoản vay 2.000.000.000đ là:
+ Tiền lãi trong hạn: 2.000.000.000đ x 20%/ năm x 1 tháng =
33.333.333đ.
+ Tiền lãi trên nợ gốc quá hạn: 2.000.000.000đ x 150% x 20% x 1 năm (12
tháng) = 600.000.000đ.
+ Tiền lãi trên nợ lãi quá hạn: 33.333.333 x 10% x 1 năm (12 tháng quá
hạn) = 3.333.333đ.
Tổng tiền lãi của món 2.000.000.000đ là: 33.333.333 + 600.000.000 +
3.333.333 = 636.666.666đ.
Vì vậy, khoản tiền ông H trả 2.400.000.000đ thì có một phần trừ nợ lãi vay
số tiền 2.000.000.000đ là 636.666.666đ và phần trừ trả nợ lãi tiền mua phân bón là 1.763.333.334đ.
Để chứng minh cho lời trình bày của mình thì bà Đ cung cấp bản phô tô
“Giấy vay tiền” đề ngày 01/11/2016 giữa người cho vay là bà Phạm Thị Đ với người vay tiền là ông Phan Ngọc H, số tiền vay là 2.000.000.000đ, thời hạn vay là 01 tháng, lãi suất thỏa thuận là 3%/tháng, giấy vay tiền trên do chính ông H ký xác nhận (BL 125).
Xét thấy, giữa bà Đ và ông H thỏa thuận giao dịch mua – bán phân bón
với nhau và chốt nợ bằng “Giấy vay mượn tiền” và “Biên bản làm việc” ngày 05/02/2016, tính đến thời điểm chốt nợ và ghi thành “Giấy vay mượn tiền” ngày 05/02/2016 thì các bên thể hiện số tiền nợ là 7.273.675.000đ, sau đi trừ chênh lệch 10 tấn phân bón NPK như các bên thừa nhận thì số tiền nợ còn lại là 7.176.325.000đ mà các bên không có ghi nhận khoản nợ lãi nào.
Ngoài ra, tại Giấy vay mượn tiền ngày 05/02/2016 có ghi “Thời hạn
trả: trả theo từng lần hoặc trả một lần khi ông H có tiền”. Còn tại Biên bản làm việc về việc chuyển công nợ thành tiền mượn ngày 05/02/2016 thể hiện “… Toàn bộ số nợ trên đã quá hạn trả cho nhà cung cấp (31/12/2015) mà ông H chưa trả nên bà Đ phải vay mượn để thanh toán cho đối tác. Cụ thể như sau: Bà Đ vay bên ngoài 4,5 tỷ với lãi suất 2%/tháng. Thế chấp tài sản vay ngân hàng 3 tỷ với lãi suất 7%/năm. Toàn bộ số lãi suất trên ông H có trách nhiệm thanh toán lại cho bà Đ theo từng tháng hoặc từng lần trả nợ gốc”.
Theo biên bản làm việc và giấy vay mượn tiền ngày 05/02/2016, trong
đó biên bản làm việc có ghi nhận khoản nợ ông H nợ bà Đ là từ các khoản mua bán phân bón và đã quá hạn nhà cung cấp (từ ngày 31/12/2015), nhưng nội dung các bên không xác định lãi cụ thể của khoản nợ như thế nào, mà chỉ thống nhất ông H chịu toàn bộ số lãi của khoản vay Ngân hàng 3.000.000.000đ với mức lãi suất là 7%/01 năm, và khoản nợ 4.500.000.000đ với mức lãi suất 2%/tháng. Đồng thời, ông H, bà Đ cùng thống nhất chốt số nợ đến ngày 05/02/2016, theo giấy vay mượn tiền xác định ông H vay của bà Đ “Bắt đầu từ ngày 05/02/2016” với số tiền như đã chốt lại là 7.273.675.000đ.
Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xác định số nợ ông H còn nợ bà Đ tính đến
ngày 05/02/2016 là 7.176.325.000đ (7.273.675.000đ - 97.350.000đ) là có căn cứ.
Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, bà Đ
xác định bà không tranh chấp liên quan đến số tiền vay 2.000.000.000đ ngày 01/11/2016 và số tiền lãi của số tiền vay 2.000.000.000đ mà ông H đã thanh toán cho bà là 636.666.666đ (trong tổng số tiền lãi 2.400.000.000đ mà ông H thanh toán), bà trình bày số tiền 2.000.000.000đ và tiền lãi 636.666.666đ là do người đại diện theo ủy quyền của bị đơn rằng đây là số tiền gốc ông H thanh toán cho bà nên bà phải giải trình để làm rõ số tiền này.
Như phân tích trên, để chứng minh cho lời trình bày của mình thì
trong quá trình giải quyết vụ án, bà Đ cung cấp bản phô tô “Giấy vay tiền” đề ngày 01/11/2016 giữa người cho vay là bà Phạm Thị Đ với người vay tiền là ông Phan Ngọc H, số tiền vay là 2.000.000.000đ, thời hạn vay là 01 tháng, lãi suất thỏa thuận là 3%/tháng, đồng thời ông H thế chấp cho bà Đ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CC 219500 mang tên ông H, bà Mai Thị Diễm Thúy; giấy vay tiền trên do chính ông H ký xác nhận (BL 125); đến ngày 01/12/2017, ông Phan Ngọc T là người đại diện cho ông H thanh toán cho bà Đ số tiền gốc 2.000.000.000đ và nhận lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà chưa thanh toán tiền lãi cùng thời điểm thanh toán tiền gốc là có trên thực tế và được các bên đượng sự thừa nhận. Do đó, việc bà Đ cho rằng sau khi thanh toán số tiền gốc thì ông H thanh toán cho bà số tiền lãi 636.666.666đ của số tiền gốc 2.000.000.000đ và bà giao lại bản chính giấy vay tiền ngày 01/11/2016 cho ông H là có cơ sở vì tiền gốc và tiền lãi đã được các bên quyết toán xong.
Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm lại xác định toàn bộ số tiền
2.400.000.000đ (trong đó có số tiền lãi 636.666.666đ của số tiền vay gốc 2.000.000.000đ), mà ông H thanh toán cho bà Đ là tiền lãi mua bán phân bón không liên quan đến tiền lãi của số tiền vay 2.000.000.000đ là không đúng với bản chất nội dung vụ án, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà Đ. Do đó, Tòa án cấp phúc thẩm cần sửa bản án sơ thẩm xác định số tiền lãi 1.763.333.334đ (2.400.000.000đ - 636.666.666đ) ông H thanh toán cho bà Đ tương ứng theo khoản nợ mua bán phân bón được chốt lại theo từng thời điểm ông H chuyển trả nợ cho bà Đ nếu số tiền ông H chuyển trả vượt khoản tiền lãi phát sinh thì phần vượt quá được trừ vào nợ gốc là có căn cứ.
Tại biên bản làm việc ngày 05/02/2016 thể hiện ông H thống nhất chịu
lãi và mức lãi suất của khoản nợ như nêu trên. Tuy nhiên, lãi suất thỏa thuận đối với khoản nợ 3.000.000.000đ với mức 7%/01 năm là phù hợp với quy định của Bộ luật Dân sự 2005 và Bộ luật Dân sự năm 2015 nên Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận là phù hợp; còn đối với mức lãi suất hai bên thỏa thuận là 2%/01 tháng cho khoản nợ 4.500.000.000đ thì vượt quá mức lãi suất theo quy định của pháp luật nhưng Tòa án cấp sơ thẩm điều chỉnh lãi suất từng thời kỳ tương ứng áp dụng Bộ luật Dân sự 2005, mức lãi suất thỏa thuận không vượt quá 13,5%/01 năm và giai đoạn áp dụng Bộ luật Dân sự năm 2015 thì lãi suất các bên thỏa thuận không vượt quá 20%/01 năm là không đúng quy định của pháp luật. Bởi lẽ, các bên chốt nợ vào ngày 05/02/2016 là thời điểm Bộ luật Dân sự 2005 có hiệu lực pháp luật nên Tòa án cấp phúc thẩm cần điểu chỉnh lãi suất của số tiền 4.176.325.000đ (7.176.325.000đ – 3.000.000.000đ) theo quy định của Bộ luật Dân sự 2005 là có căn cứ.
Theo quy định tại điểm a, b, c khoản 1 Điều 688 Bộ luật Dân sự năm 2015
quy định:
1. Đối với giao dịch dân sự được xác lập trước ngày bộ luật này có hiệu lực
thì việc áp dụng pháp luật được quy định như sau:
a) Giao dịch dân sự chưa được thực hiện mà có nội dung, hình thức khác
với quy định của bộ luật này thì chủ thể giao dịch tiếp tục thực hiện theo quy định của BLDS số 33/2005/QH11 và các văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết BLDS số 33/2005/QH11, trừ trường hợp các bên của giao dịch dân sự có thỏa thuận về việc sửa đổi, bổ sung nội dung, hình thức của giao dịch để phù hợp với bộ luật này và để áp dụng quy định của bộ luật này. Giao dịch dân sự đang được thực hiện mà có nội dung, hình thức khác với quy định của bộ luật này thì áp dụng quy định của BLDS số 33/2005/QH11 và các văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết BLDS số 33/2005/QH11;
b) Giao dịch dân sự chưa được thực hiện hoặc đang được thực hiện mà có
nội dung và hình thức phù hợp với quy định của bộ luật này thì áp dụng quy định của bộ luật này;
c) Giao dịch dân sự được thực hiện xong trước ngày bộ luật này có hiệu lực
mà có tranh chấp thì áp dụng quy định của BLDS số 33/2005/QH11 và các văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết BLDS số 33/2005/QH11 để giải quyết.
Như vậy, các bên chốt nợ vào ngày 05/02/2016 là trước ngày Bộ luật
Dân sự 2015 có hiệu lực 01/01/2017 nhưng Tòa án cấp sơ thẩm lại áp dụng lãi suất theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015 là không đúng mà cần phải áp dụng Bộ luật Dân sự năm 2005 và các văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết Bộ luật Dân sự năm 2005 để giải quyết yêu cầu về lãi suất của bà Đ mới đúng quy định của pháp luật.
Căn cứ khoản 1 Điều 476, khoản 2 Điều 438 Bộ luật Dân sự 2005 thì: “Lãi
suất vay do các bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng”. Cụ thể:
- Lãi tính từ ngày 05/02/2016 đến ngày 30/09/2016 là 07 tháng 25 ngày,
được tính như sau:
Số tiền 3.000.000.000đ x 7%/12 tháng x 07 tháng 25 ngày = 137.083.333đ.
Số tiền 4.176.325.000đ x 13,5%/12 tháng x 07 tháng 25 ngày =
368.038.641đ.
Tổng cộng là: 137.083.333đ + 368.038.641đ = 505.121.974đ.
Ngày 30/09/2016 ông H Trả số tiền 300.000.000đ nên số tiền này được trừ
trả nợ lãi phát sinh. Số tiền lãi ông H còn nợ đến thời điểm 30/09/2016 là:
Số tiền 505.121.974đ – 300.000.000đ = 205.121.974đ.
- Lãi tính từ ngày 01/10/2016 đến ngày 30/12/2016 là 03 tháng, được tính
như sau:
Số tiền 3.000.000.000đ x 7%/12 tháng x 03 tháng = 52.500.000đ.
Số tiền 4.176.325.000đ x 13,5%/12 tháng x 03 tháng = 140.950.969đ.
Tổng cộng là: 52.500.000đ + 140.950.969đ = 193.450.969đ.
Ngày 30/12/2016 ông H Trả số tiền 100.000.000đ nên số tiền này được trừ
trả nợ lãi phát sinh. Số tiền lãi ông H còn nợ đến thời điểm 30/12/2016 là:
(205.121.974đ + 193.450.969đ ) – 100.000.000đ = 298.572.943đ.
- Lãi tính từ ngày 31/12/2016 đến ngày 18/04/2018 là 15 tháng 19 ngày,
được tính như sau:
Số tiền 3.000.000.000đ x 7%/12 tháng x 15 tháng 19 ngày = 273.583.333đ.
Số tiền 4.176.325.000đ x 13,5%/12 tháng x 15 tháng 19 ngày =
742.341.769đ.
Tổng cộng là: 273.583.333đ + 742.341.769đ = 1.015.925.102đ.
Ngày 18/4/2018 ông H Trả số tiền 363.333.334đ nên số tiền này được trừ
trả nợ lãi phát sinh. Số tiền lãi ông H còn nợ đến thời điểm 18/04/2018 là:
(298.572.943đ + 1.015.925.102đ) - 363.333.334đ = 951.164.711đ.
- Lãi tính từ ngày 19/04/2018 đến ngày 11/07/2018 là 02 tháng 26 ngày,
được tính như sau:
Số tiền 3.000.000.000đ x 7%/12 tháng x 02 tháng 26 ngày = 50.166.667đ.
Số tiền 4.176.325.000đ x 13,5%/12 tháng x 02 tháng 26 ngày =
131.554.238đ.
Tổng cộng là : 50.166.667đ.+ 131.554.238đ = 181.720.905đ.
Ngày 11/07/2018 ông H Trả số tiền 200.000.000đ nên số tiền này được trừ
trả nợ lãi phát sinh. Số tiền lãi ông H còn nợ đến thời điểm 11/07/2018 là:
(951.164.711đ + 181.720.905đ) - 200.000.000đ = 932.885.616đ.
- Lãi tính từ ngày 12/07/2018 đến ngày 20/08/2018 là 01 tháng 09 ngày,
được tính như sau:
Số tiền 3.000.000.000đ x 7%/12 tháng x 01 tháng 09 ngày = 22.750.000đ.
Số tiền 4.176.325.000đ x 13,5%/12 tháng x 01 tháng 09 ngày =
62.644.875đ.
Tổng cộng là: 22.750.000đ + 62.644.875đ = 85.394.875đ.
Ngày 20/08/2018 ông H Trả số tiền 100.000.000đ nên số tiền này được trừ
trả nợ lãi phát sinh. Số tiền lãi ông H còn nợ đến thời điểm 20/08/2018 là:
(932.885.616đ + 85.394.875đ) - 100.000.000đ = 918.280.491đ.
- Lãi tính từ ngày 21/08/2018 đến ngày 18/09/2018 là 29 ngày, được tính
như sau:
Số tiền 3.000.000.000đ x 7%/12 tháng x 29 ngày = 16.916.667đ.
Số tiền 4.176.325.000đ x 13,5%/12 tháng x 29 ngày = 45.417.534đ.
Tổng cộng là: 16.916.667đ + 45.417.534đ = 62.334.201đ.
Ngày 18/09/2018 ông H Trả số tiền 100.000.000đ nên số tiền này được trừ
trả nợ lãi phát sinh. Số tiền lãi ông H còn nợ đến thời điểm 18/09/2018 là:
(918.280.491đ + 62.334.201đ ) - 100.000.000đ = 880.614.692đ.
- Lãi tính từ ngày 19/09/2018 đến ngày 18/10/2018 là 01 tháng, được tính
như sau:
Số tiền 3.000.000.000đ x 7%/12 tháng x 01 tháng = 17.500.000đ.
Số tiền 4.176.325.000đ x 13,5%/12 tháng x 01 tháng = 46.983.656đ.
Tổng cộng là: 17.500.000đ + 46.983.656đ = 64.483.656đ.
Ngày 18/10/2018 ông H Trả số tiền 200.000.000đ nên số tiền này được trừ
trả nợ lãi phát sinh. Số tiền lãi ông H còn nợ đến thời điểm 18/10/2018 là:
(880.614.692đ + 64.483.656đ) - 200.000.000đ = 745.098.348đ.
- Lãi tính từ ngày 19/10/2018 đến ngày 16/11/2018 là 29 ngày, được tính
như sau:
Số tiền 3.000.000.000đ x 7%/12 tháng x 29 ngày = 16.916.667đ.
Số tiền 4.176.325.000đ x 13,5%/12 tháng x 29 ngày = 45.417.534đ.
Tổng cộng là: 16.916.667đ+ 45.417.534đ = 62.334.201đ.
Ngày 16/11/2018 ông H Trả số tiền 200.000.000đ nên số tiền này được trừ
trả nợ lãi phát sinh. Số tiền lãi ông H còn nợ đến thời điểm 16/11/2018 là :
(745.098.348đ + 62.334.201đ) - 200.000.000đ = 607.432.549đ.
- Lãi tính từ ngày 17/11/2018 đến ngày 09/01/2019 là 01 tháng 25 ngày,
được tính như sau:
Số tiền 3.000.000.000đ x 7%/12 tháng x 01 tháng 25 ngày = 32.083.333đ.
Số tiền 4.176.325.000đ x 13,5%/12 tháng x 01 tháng 25 ngày =
84.570.581đ.
Tổng cộng là: 32.083.333đ + 84.570.581đ = 116.653.914đ.
Ngày 09/01/2019 ông H Trả số tiền 200.000.000đ nên số tiền này được trừ
trả nợ lãi phát sinh. Số tiền lãi ông H còn nợ đến thời điểm 09/01/2019 là:
(607.432.549đ + 116.653.914đ) - 200.000.000đ = 524.086.463đ.
- Lãi tính từ ngày 10/01/2019 đến ngày 13/4/2021 (ngày Tòa án xét xử phúc
thẩm) là 27 tháng 03 ngày, được tính như sau:
Số tiền 3.000.000.000đ x 7%/12 tháng x 27 tháng 03 ngày = 481.250.000đ.
Số tiền 4.176.325.000đ x 13,5%/12 tháng x 27 tháng 03 ngày =
1.292.050.547đ.
Tổng cộng là: 481.250.000đ + 1.292.050.547đ = 1.773.300.547đ.
Tổng cộng tiền lãi là: 524.086.463đ + 1.773.300.547đ = 2.297.387.010đ.
Như vậy, tính đến ngày 13/4/2021, số tiền liên quan đến giao dịch mua bán
phân bón ông H còn nợ bà Đ tổng cộng là 7.176.325.000đ + 2.297.387.010đ = 9.473.712.010đ (trong đó số tiền nợ gốc là 7.176.325.000đ và số tiền nợ lãi là 2.297.387.010đ). Do vậy, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện, chấp nhận kháng cáo của bà Đ, buộc ông H phải trả cho bà Đ số tiền nợ gốc và lãi tổng cộng 9.473.712.010đ là có căn cứ.
Đối với việc bà Đ cho ông H vay 2.000.000.000đ và lãi suất 3%/tháng.
Do các đương sự không có yêu cầu giải quyết nên Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét giải quyết là có căn cứ, nếu sau này các đương sự có tranh chấp thì sẽ được giải quyết bằng vụ án khác khi có yêu cầu.
Với phân tích trên, Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận toàn bộ kháng cáo
của nguyên đơn bà Phạm Thị Đ, chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn ông Phan Ngọc H để sửa bản án sơ thẩm theo hướng nhận định trên là có căn cứ.
Về án phí: Do sửa bản án sơ thẩm nên các đương sự không phải chịu
án phí dân sự phúc thẩm nhưng phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định. Cụ thể: Buộc ông Phan Ngọc H phải chịu 117.473.712đ án phí dân sự sơ thẩm. (9.473.712.010đ = 112.000.000 đồng + 0,1% vượt quá 4.000.000.000 đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào Khoản 2 Điều 308 - Bộ luật Tố tụng Dân sự; Nghị quyết số:
326/2014/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận toàn bộ kháng cáo của nguyên đơn bà Phạm Thị Đ; chấp nhận
một phần kháng cáo của bị đơn ông Phan Ngọc H. Sửa bản án sơ thẩm. Xử:
1- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị Đ về việc “Tranh chấp
hợp đồng dân sự mua bán tài sản và vay tài sản” với ông Phan Ngọc H.
Buộc ông Phan Ngọc H phải trả cho bà Phạm Thị Đ số tiền 9.473.712.010đ (Chín tỷ bốn trăm bảy mươi ba triệu bảy trăm mười hai ngàn không trăm mười đồng), trong đó tiền gốc là 7.176.325.000đ, tiền lãi là 2.297.387.010đ.
- Lãi suất chậm thi hành án:
“Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, bên phải
thi hành án còn phải trả số tiền lãi, tương ứng với thời gian và số tiền chậm trả, theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật Dân sự”.
2- Về án phí sơ thẩm:
2.1- Buộc ông Phan Ngọc H phải chịu 117.473.712đ án phí dân sự sơ thẩm.
2.2- Hoàn trả cho bà Phạm Thị Đ số tiền 60.100.000đ tạm ứng án phí dân
sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0007557 ngày 07/7/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện LH.
3- Về án phí phúc thẩm:
3.1- Hoàn trả cho bà Phạm Thị Đ số tiền 300.000đ tạm ứng án phí dân sự
phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0015074 ngày 29/01/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện LH.
3.2- Hoàn trả cho ông Phan Ngọc H số tiền 300.000đ tạm ứng án phí dân
sự phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0015062 ngày 25/01/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện LH.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 -
Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 - Luật thi hành án dân sự”.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận - VKSND tỉnh Lâm Đồng; - TAND H. LH; - CCTHADS H. LH; - Phòng KTNV&THA; - Các đương sự; - Lưu AV – HS. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Châu Thạch - Đỗ Mạnh Hùng | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Bùi Hữu Nhân Bùi Hữu Nhân |