vanban.org

Bản án 39/2020/HSST — Hình sự

TAND huyện Phú Xuyên, TP. Hà Nội Tuyên án 30/09/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Bùi Quang K phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.

Phạt bị cáo Bùi Quang K 30 ( Ba mươi ) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt đi thụ hình được trừ 06 ngày tạm giữ. 01 phong bì niêm phong mặt trước có hình dấu vuông có ghi Công an thành phố Hà Nội, đơn vị Công an huyện Phú Xuyên, tên đối tượng Bùi Quang K, SN 1964, HKTT: thôn B, xã M, huyện P, … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Quang K mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Bùi Quang K phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ XUYÊN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:39 /2020/HS ST
Ngày: 14 - 9 - 2020.
NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ XUYÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phùng Văn Phong.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Văn Phong và ông Đào Đức Giôn

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Tuấn Anh - Thẩm tra viên Tòa án.

- Đại diện VKSND tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Hoàn – KSV.

Mở phiên tòa ngày 14 tháng 9 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Xuyên, Thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 40/2020TLST - HS ngày 26 tháng 8 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2020QĐXXST – HS, ngày 01 tháng 9 năm 2020 đối với:

Bị cáo: Bùi Quang K, sinh năm 1964; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và cư trú tại: thôn B, xã M, huyện P, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa giáo; Trình độ văn hóa: 7/10; Nghề nghiệp: Lao động tự do; là con ông Bùi Trọng K và Bùi Thị M; Vợ là Bùi Thị N đãcó 02 con, lớn 30 tuổi, nhỏ 28 tuổi; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 31/5/2001, bị TAND huyện D, tỉnh H xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời giản thử thách là 18 tháng về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo 1 Điều 250 BLHS năm 1999 (đã được xóa án tích); Bị can bị bắt, tạm giữ từ ngày 08/5/2020 đến 14/5/2020. Hiện đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã M, huyện P, TP Hà Nội. Có mặt.

Người liên quan: Hoàng Văn T, SN 1967; Trú tại xã M, huyện D, tỉnh H. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Cáo trạng của VKSND và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bùi Quang K ở thôn B, xã M vốn là người nghiện ma túy nên thường mua ma túy sử dụng kết hợp bán kiếm lời. Chiều ngày 08/5/2020, K mua được 04 gói ma túy loại Heroin với giá 150.000đ/gói từ bạn nghiện tên thường gọi là Kẹo nhà ở khu vực Đ, xã V, huyện T ( không biết rõ danh tính, địa chỉ ). Đến 17 giờ cùng ngày, có bạn nghiện là Hoàng Văn T, sinh năm 1967 ở xã M, huyện D, tỉnh H gọi điện thọi hỏi K: “ Còn hàng không để cho ba cái ? ” Hiểu ý T hỏi mua ba gói ma túy loại heroin, K trả lời: “ Còn bốn cái ”. Hai bên thỏa thuận K đồng ý bán cho T 04 gói ma túy Heroin với giá 200.000 đồng/gói và hẹn gặp T tại cánh đồng Đ, thôn B, xã M, huyện P, thành phố Hà Nội để giao hàng.

Thỏa thuận với T xong, K cất 04 gói ma túy loại Heroin vào túi quần bên trái, lấy chiếc xe máy hiệu Wave Alpha màu xanh, biển số 18S4-3272 của chị Bùi Thị N ( là vợ K ) đi đến chỗ T hẹn để bán ma túy. Khi đến khu vực cánh đồng Đ, thấy T đang đứng chờ nên K cầm 04 gói ma túy lại gần nhưng chưa kịp giao ma túy và nhận tiền từ T thì phát hiện lực lượng Công an đi tới, K liền dùng tay trái lấy 04 gói ma túy heroin ở túi quần bên trái thả xuống đường, gần chỗ K đứng nhưng bị lực lượng Công an phát hiện, bắt giữ cả hai đưa về trụ sở giải quyết.

Thu giữ của T: 1.510.000 đồng tại túi quần bên phải; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu hồng nhạt đã qua sử dụng ; 01 xe máy nhãn hiệu Honda màu đỏ đen, biển số 90B2-39427.

Thu giữ của K 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, bên trong có sim số 0339386383; 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Wave alpha, biển số 18S4-3272 và 04 gói giấy màu trắng bên trong có chất bột màu trắng nghi là Heroin nên đã niêm phong gửi đi giám định tại cơ quan có thẩm quyền.

Tại bản kết luận giám định số 3664/KLGĐ-PC09 ngày 18/5/2020 của phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội, kết luận: Chất bột màu trắng bên trong 04 gói giấy màu trắng đều là ma túy loại Heroine, tổng khối lượng: 0,378g.

Tại cáo trạng số 40/CT - VKS ngày 24/8/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Xuyên truy tố bị cáo Bùi Quang K ra trước tòa để xét xử về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo Khoản 1 Điều 251của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Bùi Quang K khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện P giữ nguyên quan điểm về tội danh, điều luật áp dụng theo nội dung bản Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Khoản 1 Điều 251của Bộ luật hình sự, điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt Bùi Quang K từ 30 tháng đến 36 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt đi thụ hình; Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Đề nghị tịch thu tiêu hủy vật chứng của vụ án; và buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Tranh luận tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, không có ý kiến tranh luận. Lời nói sau cùng của bị cáo là đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được xem xét, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Xuyên, của Điều tra viên và Kiểm sát viên cùng những người tiến hành tố tụng khác trong quá trình điều tra, truy tố, đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục qui định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan và của Người tiến hành tố tụng...do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội:

Xét lời khai của bị cáo tại phiên, phù hợp với nội dung kết luận của cơ quan điều tra, Cáo trạng của Viện kiểm sát, phù hợp lời khai của người liên quan và của chính bị cáo trong quá trình điều tra cũng như các tài liệu, chứng cứ khác thu thập trong hồ sơ như: Biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, Sơ đồ hiện trường, Biên bản niêm phong vật chứng, Kết luận giám định... Chứng tỏ đã có đủ căn cứ để khẳng định: Vào khoảng 17 giờ 40 phút ngày 08/5/2020, Bùi Quang K ở thôn B, xã M đang mang trái phép 0,378 gam ma túy loại Heroin để bán cho đối tượng Hoàng Văn T theo thỏa thuận qua điện thoại trước đó thì bị lực lượng công an kiểm tra bắt quả tang tại khu vực cánh đồng Đ, thôn B, xã M, huyện P, TP. Hà Nội.

Với hành vi nêu trên, việc Viện kiểm sát nhân dân huyện P truy tố bị cáo Bùi Quang K ra trước Tòa để xét xử về tội Mua bán trái phép chất ma túy là có căn cứ, đúng pháp luật. Tội danh và hình phạt quy định tại Khoản 1 Điều 251của Bộ luật hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội bởi lẽ đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý đặc biệt của Nhà nước đối với các chất ma tuý, reo rắc bệnh tật, tệ nạn xã hội cho người khác, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an địa phương... khiến dư luận bất bình, đòi hỏi phải xử lý bị cáo bằng pháp luật hình sự với một hình phạt nghiêm khắc tương xứng với tính chất nguy hiểm trong hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện đồng thời cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để giáo dục bị cáo nhận thức sâu sắc về tội lỗi của mình mà ăn năn hối cải về sau và cũng là để làm gương cho những kẻ khác.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hình phạt:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Khi quyết định hình phạt, đã cân nhắc đến việc bị cáo trong quá trình tố tụng thành khẩn khai báo và có thái độ ăn năn hối cải là tình tiết quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự mà giảm nhẹ một phần hình phạt để chứng tỏ sự nhân đạo của Pháp luật.

Về hình phạt bổ sung và các vấn đề liên quan:

Do bị cáo là lao động tự do, thu nhập không ổn định...nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung bằng phạt tiền đối với bị cáo.

Đối với người đàn ông tên Kẹo đã bán ma túy cho K do chưa xác định được danh tính, địa chỉ, cơ quan CSĐT vẫn đang tiếp tục xác minh khi nào làm rõ sẽ xử lý sau nên chưa xét.

Đối với Hoàng Văn T là người gọi điện thỏa thuận mua ma túy của Khôi về sử dụng nhưng do việc mua bán chưa thành thì K đã bị bắt, qua xét nghiệm xác định T dương tính với chất ma túy nên cơ quan Công an đã đề nghị công an xã M, huyện D lập hồ sơ xử lý hành chính là có cơ sở. Số tiền 1.510.000 đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung thu giữ của Hoàng Văn T do là tài sản hợp pháp của T, Cơ quan cảnh sát điều tra trả lại cho T là phù hợp.

Chiếc xe máy Honda Wave Alpha, biển số 18S4-3272 của chị Bùi Thị N mà K dùng đi bán ma túy cũng như chiếc xe máy Honda Blade, biển số 90B2 - 394.27 của anh Hoàng Văn V mà T dùng đi mua ma túy, qua điều tra xác định đều do chủ sở hữu hợp pháp cho K và T mượn đi lại nhưng không biết việc K, T sử dụng làm phương tiện để đi mua, bán trái phép ma túy nên Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại chiếc xe trên cho chủ sở hữu là đúng pháp luật.

Vật chứng của vụ án là chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia cùng gói ma túy sau giám định thu giữ của K đều đã cũ hỏng không còn giá trị sử dụng hoặc bị cấm tàng trữ, lưu hành nên tịch thu tiêu huỷ.

Ngoài hình phạt, bị cáo Bùi Quang K còn phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo qui định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Bùi Quang K phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.

2. Áp dụng Khoản 1 Điều 251; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử:

Phạt bị cáo Bùi Quang K 30 ( Ba mươi ) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt đi thụ hình được trừ 06 ngày tạm giữ.

3. Áp dụng điểm a, c Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên: Tịch thu để tiêu huỷ:

01 phong bì niêm phong mặt trước có hình dấu vuông có ghi Công an thành phố Hà Nội, đơn vị Công an huyện Phú Xuyên, tên đối tượng Bùi Quang K, SN 1964, HKTT: thôn B, xã M, huyện P, TP Hà Nội, ngày niêm phong 09/5/2020; mặt sau phong bì có chữ ký của đối tượng và giám định viên; bên trong phong bì có chứa 04 gói giấy màu trắng đều là ma túy loại Heroin trọng lượng 0,378 gam theo kết luận giám định số 3664/KLGĐ-PC09 ngày 18/5/2020 của phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội là vật cấm tàng trữ, lưu hành;

01 điện thoại di động hiệu NOKIA màu đen model RM1190 số IMEI 355850093980943 bên trong có thẻ sim số 0339386383 đều đã cũ hỏng không còn giá trị sử dụng.

Toàn bộ tang vật hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện P, Thành phố Hà Nội.

4. Áp dụng Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy ®Þnh vÒ mức thu, miÔn, gi¶m, thu nép, qu¶n lý vµ sö dông ¸n phÝ vµ lÖ phÝ Tßa ¸n: Buộc bị cáo Bùi Quang K phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm, báo bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ