- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Anh T Đ - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Anh T Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 39/2020/HS-ST Ngày: 24.02.2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Việt Nga Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hải Phùng
Bà Nguyễn Thị Cờ
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hạnh - Thư ký Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Phúc Hoài - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 02 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 03/2020/HSST ngày 06 tháng 01 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2019/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 01 năm 2020 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Anh T Đ - sinh năm 1998; nơi ĐKHKTT: P, B Ngô Sỹ Liên, phường Văn Miếu, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội; Nơi cư trú: A ngách B phố Tôn Đức Thắng, phường Hàng Bột, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: tự do; Trình độ văn hóa: 8/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Con ông Lê H T và bà Khuất T T H; Tiền án, tiền sự: không; Danh chỉ bản số 492 do Công an quận Đống Đa lập ngày 13.6.2019; bị cáo bị bắt quả tang ngày 12.6.2019 - Bị cáo tại ngoại và hiện đang cai nghiện ma túy tự nguyện tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 5 Hà Nội; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Anh Trần V T -sinh năm 1997; Cư trú tại: A Tôn Đức Thắng, phường Hàng Bột, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội- Có đơn đề nghị vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ 45 phút ngày 12.6.2019, Lê Anh T Đ đi vào trong sân tenis ở số 85 Tôn Đức Thắng, phường Hàng Bột, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội để xem đánh Tenis, khi Đ đi đến khu ghế nơi khách chơi tenis để đồ thì Đ phát hiện trên ghế có để 01 điện thoại di động Iphone 6S Plus, màu ghi xám của anh Trần V T (Sinh năm: 1997, trú tại: số A Tôn Đức Thắng, phường Hàng Bột, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội), Đ đã nảy sinh ý định trộm cắp chiếc điện thoại, Đ tiến lại gần lấy chiếc điện thoại rồi cất vào trong túi quần bên phải và đi ra khỏi sân tenis. Đến khoảng 18 giờ 00 phút cùng ngày anh T phát hiện bị mất chiếc điện thoại Iphone 6S Plus, màu ghi xám và nghi ngờ cho Đ là người đã lấy trộm nên đã đi tìm Đ và gặp Đ tại ngõ A Tôn Đức Thắng, phường Hàng Bột và anh T hỏi Đ có lấy điện thoại trong sân tenis không thì Đ đã lấy chiếc điện thoại từ trong túi quần bên phải ra đưa trả cho anh T. Anh T đã đưa Đ cùng tang vật là chiếc điện thoại Iphone 6S Plus, màu ghi xám ra Công an phường Hàng Bột trình báo.
Tại Cơ quan điều tra Lê Anh T Đ khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Tại Kết luận định giá tài sản số 327/2019 ngày 23.7.2019 của Hội đồng định giá tài sản quận Đống Đa, kết luận:
- Trị giá một chiếc điện thoại Iphone 6S- 16GB: 3.000.000 đồng.
Cơ quan điều tra đã trao trả cho anh Trần V T 01 điện thoại Iphone 6S Plus, màu ghi xám. Anh T đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường gì khác.
Cáo trạng số 14/CT-VKSĐĐ ngày 02.01.2020 của Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa đã truy tố Lê Anh T Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa vẫn giữ nguyên cáo trạng truy tố bị cáo về tội danh nêu trên, sau khi phân tích đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng Khoản 1 Điều 173; Điểm i, s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt Lê Anh T Đ mức án từ 6 tháng đến 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”, thời gian thử thách từ 12 đến 20 tháng, miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về trách nhiệm dân sự, bị hại đã nhận lại đầy đủ tài sản và không có yêu cầu bồi thường dân sự nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Trong lời nói sau cùng, bị cáo Lê Anh T Đ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Đống Đa, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh:
Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội như sau:
Khoảng 17 giờ 45 phút ngày 12.6.2019 tại sân tenis ở số A Tôn Đức Thắng, phường Hàng Bột, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội. Lê Anh T Đ có hành vi trộm cắp 01 điện thoại Iphone 6S Plus, màu ghi xám, trị giá 3.000.000 đồng của anh Trần V T. Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa truy tố bị cáo Lê Anh T Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ và đúng pháp luật.
Tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:
Hµnh vi cña bÞ c¸o lµ nguy hiÓm cho x· héi, lợi dụng mọi sự sơ hở của người khác để chiếm đoạt tài sản mục đích để ăn tiêu sử dụng nhu cầu bản thân, gây lên sự bất ổn định về tình hình an ninh trật tự. Hành vi của bị cáo cần xử lý nghiêm khắc nhằm cải tạo giáo dục bị cáo đồng thời giáo dục răn đe phòng ngừa chung.
Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tang vật của vụ án đã được thu hồi, trong quá trình điều tra và xét xử đã khai báo thành khẩn, có thái độ ăn năn hối cải, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm i, s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Do vậy, Hội đồng xét xử xét thấy nên tạo cho bị cáo cơ hội được cải tạo tại xã hội cũng đủ điều kiện giáo dục bị cáo, trở thành công dân có ích.
Do bị cáo không có việc làm ổn định nên miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về dân sự: Bị hại là anh Trần V T đã nhận lại đầy đủ tài sản, không có yêu cầu gì khác nên Tòa không xét.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo và người bị hại được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Lê Anh T Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
Áp dụng Khoản 1 Điều 173; Điểm i, s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.
Xử phạt: Lê Anh T Đ 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 (Mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án
Giao bị cáo Lê Anh T Đ cho Cơ sở cai nghiện ma túy số 5 Hà Nội, Ủy ban nhân dân phường Hàng Bột, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo qui định tại Khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án Hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
* Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại đầy đủ tài sản và không có yêu cầu bồi thường dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Án phí: Áp dụng Khoản 2 Điều 135 và Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống Đ hợp lệ Bản án.
| Nơi nhận: - Toµ ¸n nh©n d©n TP Hµ Néi; - VKSND quận Đống Đa; - Công an quận Đống Đa; - Chi cục THADS quận Đống Đa; - BÞ c¸o; - L u HS,VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Việt Nga ( Đã ký) |