vanban.org

Bản án 39/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 15/09/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Lam S phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Phạm Lam S 06(sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ là ngày 19/6/2020. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án p… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Lam S phạm tội "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phạm Lam S phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN ND HUYỆN NGA SƠN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 39/2020/HS-ST
Ngày: 15-9-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGA SƠN, TỈNH THANH HOÁ

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Mai Nam Tiến.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ngọc Bình và bà Dương Thị Thoa.

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Thư - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hoá.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Ông Mai Văn Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 9 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 32/2020/TLST-HS ngày 14 tháng 8 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2020/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 9 năm 2020 đối với bị cáo:

Phạm Lam S, sinh ngày 04/7/1992 tại: huyện N, tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: thôn T, xã B, huyện N, tỉnh Thanh Hoá; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Đức T và bà Mai Thị H; chưa có vợ, con; tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: tham gia quân đội từ tháng 9/2010 đến tháng 12/2011 hoàn thành nghĩa vụ trở về địa phương; bị tạm giữ ngày 19/6/2020, tạm giam ngày 25/6/2020; có mặt.

- Bị hại: Ông Mai Xuân Q, sinh năm 1960; nơi cư trú: thôn H, xã B, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Văn M, sinh năm 1975; nơi cư trú: tiểu khu L, thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Sáng ngày 12/6/2020, Phạm Lam S đi bộ từ nhà ở của mình đến nhà anh Phạm Văn Q ở cùng thôn chơi. Thấy S đến, anh Q nói chuẩn bị đi câu cá nên S hút thuốc lào rồi đi đến nhà ông Ngô Văn T là chú họ của S ở thôn H, xã B với mục đích mượn xe mô tô làm phương tiện đi lại. Ông T không cho S mượn xe vì đang sử dụng xe đi công việc, nên S đứng nói chuyện với ông T khoảng 10 phút rồi đi bộ về.

Khoảng 08h00 cùng ngày, trên đường về, khi đến xưởng mộc của anh Phạm Văn C, S nhìn thấy ở hiên nhà đối diện xưởng mộc có 01 chiếc xe mô tô (là tài sản của ông Mai Xuân Q ở thôn H, xã B) nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu xanh, gắn biển kiểm soát (BKS) 36H8-7918. Thấy trên xe có sẵn chìa khóa, lại không có người trông coi nên S nảy sinh ý định trộm cắp xe mô tô để cầm cố lấy tiền chi tiêu và mua ma túy sử dụng. Quan sát xung quanh không thấy ai để ý, S đi đến ngồi lên xe mô tô, khởi động rồi điều khiển xe đến nhà anh Phạm Văn Q. Thấy anh Q đang nằm ở võng, S nhờ Q đi cùng để điều khiển chiếc xe mô tô khác về cho mình. Nghe S nói, Q không hỏi gì mà đồng ý ngồi lên xe. S điều khiển xe mô tô mới trộm cắp được chở anh Q đến nhà anh Nguyễn Văn M ở tiểu khu L, thị trấn N để cầm cố xe. Số tiền cầm cố xe được 1.500.000 đồng, S chuộc lại chiếc xe mô tô nhãn hiệu JABATO, màu xanh, BKS 36N1-4864 (đây là xe S mượn của anh Hoàng Văn T ngày 10/6/2020), nên anh M đã trừ đi 700.000 đồng tiền gốc và 100.000 đồng tiền lãi, còn lại đưa cho S 700.000 đồng.

Nhận được tiền, S điều khiển xe mô tô BKS 36N1-4864 chở anh Q đến khu vực nhà máy thuốc lá ở Tiểu khu 1, thị trấn H, huyện H. Tại đây, S bảo anh Q đứng chờ ở điểm dừng xe buýt, còn S đi mua ma túy của một người không rõ nhân thân lai lịch hết 400.000 đồng để sử dụng. Sau đó, S ra đón anh Q về. Đến cầu B, S dừng xe lại nhờ anh Q điều khiển xe về trả cho anh Hoàng Văn T, còn S đón xe buýt đi ngược lại đường quốc lộ 1A, đón xe khách đi Hà Nội.

Ngày 19/6/2020, Phạm Lam S đến Cơ quan Công an huyện Nga Sơn đầu thú, khai báo hành vi phạm tội của mình.

Ngày 24/6/2020, Hội đồng định giá tài sản huyện Nga Sơn kết luận: chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu xanh, có một gương bên trái, vành nan, gắn BKS 36H8-7918, đã qua sử dụng, có giá trị 2.700.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số 35/CT-VKSNS-KT ngày 13 tháng 8 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố Phạm Lam S về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự (BLHS).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nga Sơn giữ nguyên quan điểm kết tội đối với bị cáo theo tội danh, điều khoản đã nêu trong cáo trạng, không thay đổi, bổ sung gì thêm đối với nội dung vụ án. Sau khi phân tích, đánh giá toàn diện vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm i, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 BLHS: xử phạt Phạm Lam S từ 06(sáu) tháng đến 09(chín) tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 173 BLHS.

Bị cáo Phạm Lam S hoàn toàn thừa nhận và khai báo toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản trong vụ án đúng như nội dung bản cáo trạng đã mô tả, không có ý kiến gì đối với các văn bản tố tụng hình sự, cũng như lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng. Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì, chỉ đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:

Về tội danh: Lời khai báo của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với đơn báo cáo cũng như lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các văn bản tố tụng hình sự khác, như: đơn xin đầu thú; biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú; sơ đồ hiện trường vụ án; bản ảnh; biên bản kết luận định giá tài sản … cũng như các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập theo trình tự luật định, phản ánh đúng sự thật khách quan của vụ án.

Như vậy đã có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 8h00’ ngày 12/6/2020, lợi dụng sơ hở của ông Mai Xuân Q trong lúc đi làm tại xưởng mộc của gia đình anh Phạm Văn C ở thôn H, xã B, ông Q để xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu xanh, gắn BKS 36H8-7918 ngoài đường, trên xe có sẵn chìa khóa, không có người trông coi, Phạm Lam S đã trộm cắp đem cầm cố lấy 1.500.000 đồng chi tiêu cá nhân. Kết quả định giá chiếc xe mô tô nói trên trị giá 2.700.000 đồng. Hành vi nêu trên của Phạm Lam S đã phạm vào tội: “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS.

Quan điểm buộc tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa đối với bị cáo theo tội danh và khung hình phạt như bản cáo trạng là hoàn toàn thỏa đáng, đảm bảo căn cứ pháp luật.

Về hình phạt: Hành vi của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội. Hành vi ấy không những đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, mà còn gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội ở địa phương, gây tâm lý hoang mang, lo lắng trong nhân dân đối với việc quản lý tài sản của gia đình.

Xét nhân thân: Bị cáo tuổi đời còn trẻ, nhưng lười lao động, thể hiện lối sống tự do, đua đòi, muốn hưởng thụ trên thành quả lao động của người khác, là người thường xuyên sử dụng ma túy, kết quả xét nghiệm dương tính với ma túy heroin. Tuy nhiên, bị cáo cũng đã từng có thời gian tham gia quân đội, hoàn thành nghĩa vụ xuất ngũ về địa phương, sau khi phạm tội đã đến Cơ quan Công an đầu thú và thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình.

Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (TNHS): Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng TNHS nào và được hưởng các tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 BLHS là phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo; đầu thú.

Đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, xem xét yếu tố nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ TNHS như đã phân tích, HĐXX thấy cần áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người công dân tốt và phòng ngừa tội phạm chung trong cộng đồng. Tuy nhiên, cần cân nhắc đến các tình tiết giảm nhẹ nêu trên để quyết định mức hình phạt đối với bị cáo cho phù hợp với quy định của pháp luật, đảm bảo đạt lý, thấu tình, cũng như thể hiện chính sách khoan hồng của Nhà nước đối với người phạm tội.

Về hình phạt bổ sung: Sau khi xem xét, cân nhắc, HĐXX thấy không cần áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 173 BLHS đối với bị cáo, vì bị cáo là người lao động tự do, thu nhập không ổn định.

Đối với anh Phạm Văn Q đi cùng Phạm Lam S để S cầm cố xe và anh Nguyễn Văn M nhận cầm cố xe mô tô BKS 36H8-7918 đều không biết đó là tài sản do S trộm cắp mà có nên không phải chịu TNHS.

Về trách nhiệm dân sự: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu xanh, BKS 36H8-7918 đã được Cơ quan CSĐT Công an huyện Nga Sơn thu hồi và trả lại cho bị hại Mai Xuân Q. Gia đình bị cáo đã trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Văn M số tiền 1.500.000 đồng bị cáo cầm cố xe. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bồi thường gì thêm, nên miễn xét.

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong các giai đoạn tố tụng đã thực hiện và ban hành đều hợp pháp, tuân thủ các nguyên tắc tố tụng cũng như đảm bảo việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm được giao theo quy định của BLTTHS.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; Điều 38 BLHS:

- Tuyên bố: Bị cáo Phạm Lam S phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

- Xử phạt: Bị cáo Phạm Lam S 06(sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ là ngày 19/6/2020.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án: bị cáo Phạm Lam S phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).

Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331 và 333 BLTTHS: bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ