- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Thanh H - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BL…"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Thanh H (Cc).
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 39/2020/HS-PT Ngày: 03-3-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Ngầu.
Các Thẩm phán:
Ông Lâm Văn Be;
Bà Phạm Thị Thanh Giang.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phố – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bé Thi - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 03 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 22/2020/TLPT-HS ngày 07 tháng 01 năm 2020 đối với bị cáo Trần Thanh H (Cc) do có kháng cáo của bị cáo Trần Thanh H (Cc) đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 85/2019/HS-ST ngày 20 tháng 11 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Tây Ninh.
Bị cáo có kháng cáo:
Trần Thanh H (Cc), sinh năm 1989, tại tỉnh Tây Ninh. Nơi cư trú: 28/11B, ấp G, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa: 8/12; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Cao đài; Con ông Trần Thành N và bà Trần Ngọc C; Có vợ là Trần Thị Ngọc N và 03 con, lớn nhất sinh năm 2013, nhỏ nhất sinh năm 2019; Tiền sự, tiền án: Không;
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Ngoài ra còn có những người tham gia tố tụng khác không có kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Chiều ngày 16-12-2018, Trần Thanh H cùng với cha ruột là ông Trần Thành N, sinh năm 1960, em ruột là Trần Nhật P, sinh năm 1994 và ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1975, cùng ngụ ấp G, xã T, huyện T, ngồi uống rượu trước nhà của ông N. Lúc này, Đào Văn P, sinh năm 1990, ngụ ấp T, xã N, huyện T, điều khiển xe môtô biển số 43S5-9009 đến nhà của bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1963 (Cô vợ của P), gần nhà của ông N. P hỏi bà Trên “Ở đây có ai ăn hiếp cô không” thì bà T trả lời “Không”. P bước ra trước cổng nói lớn “Ở đây ai ăn hiếp cô tao, tao xử”. Nghe vậy, H bước sang lên tiếng “Ai ăn hiếp gì đâu” thì hai bên cãi nhau. Một lúc sau, P, chạy xe ngang chỗ H và ông H đang ngồi nhậu thì ông H gọi P vào uống một ly rượu nhưng P không vào mà nói “15 phút quay lại”.
Đến khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, P điều khiển xe chở một người thanh niên không rõ lý lịch quay lại trước nhà ông N. Lúc này, chỉ còn H và ông H ngồi uống rượu, ông N đã vào nhà nằm nghỉ, còn P đứng gần đó nhảy múa. P cùng người thanh niên xuống xe đứng đối diện và cự cãi với P thì người thanh niên cầm cây gậy ba khúc bằng kim loại đánh một cái trúng vào trán trái của P gây thương tích. Sau khi bị đánh, P xông đến dùng hai tay ôm P giằng co, vật nhau với P ngã xuống lề đường. Người thanh niên cầm cây gậy ba khúc tiếp tục đánh vào đầu của P. Thấy vậy, H xông đến thì bị một người thanh niên khác không rõ lý lịch chạy đến dùng hung khí (chưa xác định được) đánh trúng một cái vào đầu của H gây thương tích. H chạy đến cổng nhà lấy một cây cuốc có cán bằng gỗ, lưỡi kim loại thì nhóm của P bỏ chạy. P chạy về hướng nhà bà T thì H cầm cuốc đuổi theo P.
Khi chạy được khoảng 20m, P bị vấp ngã. H chạy đến cầm cây cuốc quay lưỡi hướng lên trên, đánh một cái trúng vào đầu của P và quơ lưỡi cuốc một cái trúng vào tay phải của P gây thương tích. P ngồi dậy, dùng hai tay giật lấy cây cuốc từ H, rồi cầm cuốc đánh một cái trúng vào mặt ngoài bàn tay phải của H gây thương tích. Đánh xong, P cầm cuốc chạy đến nhà của bà T thì ném bỏ. Lúc này, ông N nghe tiếng đánh nhau nên đi từ trong nhà ra thì người thanh niên cầm cây gậy ba khúc đánh trúng vào vành tai phải gây thương tích. Ông N xông đến giật lấy cây gậy ba khúc của người thanh niên này thì người thanh niên này bỏ chạy. Sau đó, P được gia đình đưa đến Bệnh viên Chợ Rẫy, Thành phố Hồ Chí Minh điều trị đến ngày 20-12-2018 xuất viện.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 38/2019/TgT, ngày 20-02-2019 của Trung tâm pháp y thuộc Sở Y tế tỉnh Tây Ninh kết luận: 01 vết sẹo vùng đỉnh phải, 01 vết sẹo 1/3 giữa trong cẳng tay phải; Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Đào Văn P do thương tích gây nên hiện tại là 15%; Thương tích phù hợp do lưỡi cuốc hoặc vật sắc gây ra.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 52/2019/TgT ngày 13-3-2019, số: 48/2019/TgT ngày 07-3-2019, số: 50/2019/TgT ngày 13-3-2019 của Trung tâm Pháp y thuộc Sở Y tế tỉnh Tây Ninh kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Trần Nhật P do thương tích gây nên hiện tại là 3%; Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Trần Thành N do thương tích gây nên hiện tại là 2%; Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Trần Thanh H do thương tích gây nên hiện tại là 12%.
Về bồi thường thiệt hại: P yêu cầu bồi thường chi phí điều trị và tiền tổn thất thu nhập là 53.550.000 đồng nhưng H không bồi thường.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 85/2019/HS-ST ngày 20 tháng 11 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Tây Ninh quyết định:
Tuyên bố bị cáo Trần Thanh H (Cc) phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Thanh H 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về xử lý vật chứng, về bồi thường thiệt hại, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 26 tháng 11 năm 2019 bị cáo H có đơn kháng cáo với nội dung: Cấp sơ thẩm xét xử oan cho bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xử bị cáo vô tội. Ngày 02-12-2019 bị cáo H có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo H giữ nguyên nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357 của bộ luật Tố tụng hình sự. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo. Sửa bản án sơ thẩm, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bị cáo không tranh luận.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo biết lỗi, hối hận, xin xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Hành vi của bị cáo thể hiện: Khoảng 19 giờ 30 phút ngày16-12-2018, tại trước sân nhà của ông Trần Thành N (cha của bị cáo H) thuộc ấp G, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh, sau khi bị Đào Văn P cùng một đối tượng không rõ nhân thân, lai lịch đến gây sự đánh và gây thương tích cho bị cáo và em của bị cáo, bị cáo Trần Thanh H chạy đến cổng nhà lấy một cây cuốc cán bằng gỗ, lưỡi bằng kim loại là hung khí nguy hiểm thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật hình sự, đánh vào đầu, tay gây thương tích làm tổn thương cơ thể 15% cho Đào Văn P. Cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Trần Thanh H về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến thân thể, sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, đồng thời gây mất trật tự an toàn xã hội. Do đó, cần áp dụng hình phạt tương xứng với mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
Xét kháng cáo của bị cáo H xin giảm nhẹ hình phạt, thấy rằng: Cấp sơ thẩm khi quyết định hình phạt có xem xét tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo H 02 năm tù là khởi điểm của khung hình phạt là phù hợp. Tuy nhiên trong vụ án này bị hại (anh P) cũng có lỗi gây sự và đánh người nhà của bị cáo và bị cáo trước; bị cáo đã có thời gian thực hiện nghĩa vụ quân sự xong; đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự mà cấp sơ thẩm chưa áp dụng cho bị cáo, cấp phúc thẩm áp dụng để xem xét hình phạt của bị cáo. Ngoài ra, tại Tòa án cấp phúc thẩm, bị cáo H thực hiện việc khắc phục hậu quả cho bị hại số tiền 5.000.000đồng, đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện T theo biên lai thu số 0005435 ngày 25-02-2020 nên được xem xét tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, nên Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự xem xét cho bị cáo.
Từ những phân tích nêu trên, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Thanh H; chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên; sửa bản án sơ thẩm.
Về án phí: Theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo Trần Thanh H không phải chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Thanh H (Cc).
Sửa bản án sơ thẩm.
1. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Thanh H 01 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
2. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Trần Thanh H không phải chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - Phòng GĐKT 1 (TANDCC); - VKSND tỉnh Tây Ninh; - TAND Thị xã T; - Công an Thị xã T; - Phòng PV 06 Công an tỉnh TN; - Chi cục THADS Thị xã T; - Phòng lý lịch STP.TTN; - Phòng KTNV-THA; - Bị cáo; - Những người tham gia tố tụng khác; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu tập án HSPT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Võ Văn Ngầu |