- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Võ Thị V - Vi Văn Q"
- Tòa quyết gì? Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Võ Thị V với anh Vi Văn Q.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ CHÂU NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 39/2020/HNGĐST Ngày: 20-7-2020 V/việc: " Tranh chấp hôn nhân và gia đình " |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ CHÂU - TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà : Ông Trần Hoài Nam.
Các Hội thẩm nhân dân :
Ông Bùi Như Đa.
Ông Lương Thành Trung.
- Thư ký phiên toà: Ông Lô Văn Linh - Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Trần Hoàng Vân - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Quỳ Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 30/2020/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 5 năm 2020 về Tranh chấp hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 7 năm 2020, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Võ Thị V. Sinh năm: 1998.
Trú tại: Bản K, xã C, huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An.
Tạm trú: Khối T, thị trấn N, huyện Nghĩa Đàn, Nghệ An.
Có mặt.
- Bị đơn: Anh Vi Văn Q. Sinh năm: 1990.
Trú tại: Bản K, xã C, huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An.
Có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 20/5/2020, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Võ Thị V trình bày: Chị Võ Thị V và anh Vi Văn Q kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện vào năm 2018 và có làm thủ tục đăng ký kết hôn theo quy định vào ngày 24 tháng 4 năm 2018 tại UBND thị trấn N, huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn không tự giải quyết được, anh Vi Văn Q không chịu khó lao động sản xuất và không quan tâm gì đến cuộc sống gia đình. Đến tháng 01/2020 thì chị V đã đưa con về sinh sống tại nhà bố mẹ đẻ tại huyện Nghĩa Đàn và hai người đã sống ly thân từ đó đến nay. Do tình trạng hôn nhân ngày càng trầm trọng, quan hệ vợ chồng không còn tình cảm và không còn hạnh phúc. Vì vậy, chị V làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh Vi Văn Q.
Về quan hệ con cái: Chị Võ Thị V và anh Vi Văn Q có một con chung là cháu Vi Minh Kh, sinh ngày 12 tháng 9 năm 2018. Nếu ly hôn thì chị V xin nhận nuôi dưỡng con chung và yêu cầu anh Vi Văn Q phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng với số tiền 2.000.000đ (Hai triệu đồng). Ngoài ra, hai người không nhận nuôi con nuôi và không ai có con riêng.
Về tài sản: Theo chị Võ Thị V trình bày thì chị và anh Vi Văn Q không có tài sản chung, không vay của ai và cũng không cho ai vay tài sản gì. Nên chị V không yêu cầu Tòa án giải quyết về quan hệ tài sản.
Tại phiên tòa hôm nay, chị V thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện. Chị V để cho anh Q nuôi dưỡng con chung là cháu Vi Minh Kh và xin tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.
Quá trình giải quyết vụ án, anh Vi Văn Q trình bày: Anh đồng ý với chị V về thời gian, điều kiện kết hôn và con chung. Nhưng anh Q cho rằng tình cảm vợ chồng đang còn nên anh mong muốn đoàn tụ để xây dựng hạnh phúc gia đình và nuôi dạy con cái. Tuy nhiên, nếu Tòa án giải quyết cho chị V ly hôn với anh thì anh Q xin nhận nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu chị V phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung. Ngoài ra, anh Q cũng không yêu cầu Tòa án giải quyết về quan hệ tài sản.
Tại phiên tòa hôm nay, sau khi chị V thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện về quan hệ con cái thì anh Q thỏa thuận và đồng ý với yêu cầu của chị V. Anh Q đồng ý ly hôn, xin nhận nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu chị V phải có nghĩa vụ cấp dưỡng và không yêu cầu giải quyết về quan hệ tài sản.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng và đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điều 55, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình, công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị V và anh Q, giao con chung cho anh Q nuôi dưỡng, tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho chị V. Áp dụng điều 147 BLTTDS, buộc chị V phải chịu án phí DSST.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Tranh chấp giữa chị Võ Thị V và anh Vi Văn Q là “Ly hôn”. Vì vậy, vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Quỳ Châu theo quy định tại khoản 1 điều 28 và điểm a khoản 1 điều 35 BLTTDS.
Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện. Căn cứ khoản 2 Điều 71 BLTTDS, chấp nhận xem xét yêu cầu này của chị Võ Thị V.
Về nội dung: Trong quá trình giải quyết vụ án, anh Vi Văn Q không đồng ý với các yêu cầu khởi kiện của chị Võ Thị V. Tuy nhiên, tại phiên tòa hôm nay, chị V - anh Q đã thỏa thuận được với nhau về việc thuận tình ly hôn và giải quyết toàn bộ vụ án, cụ thể như sau:
Quan hệ tình cảm: Chị Võ Thị V và anh Vi Văn Q thuận tình ly hôn.
Quan hệ con cái: Con chung của chị Võ Thị V và anh Vi Văn Q (Cháu Vi Minh Kh, sinh ngày 12/9/2018) chưa đủ 36 tháng tuổi. Nhưng tại phiên tòa, chị V - anh Q đã thỏa thuận và thống nhất với nhau về việc giao con chung cho anh Q chăm sóc, nuôi dưỡng. Thỏa thuận này không trái đạo đức xã hội và các quy định của pháp luật. Vì vậy, cần ghi nhận sự thỏa thuận của chị V
- anh Q. Cần tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho chị Võ Thị V.
Quan hệ tài sản: Chị Võ Thị V và anh Vi Văn Q không yêu cầu Tòa án giải quyết về quan hệ tài sản. Vì vậy, nên miễn xét.
Về án phí: Chị Võ Thị V thỏa thuận chịu án phí DSST về ly hôn.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và Điều 147 BLTTDS;
- Căn cứ vào các Điều 55, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình;
- Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án;
1. Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Võ Thị V với anh Vi Văn Q.
2. Về con cái:
- Giao cháu Vi Minh Kh, sinh ngày 12 tháng 9 năm 2018 cho anh Vi Văn Q chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi trưởng thành.
- Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho chị Võ Thị V.
- Chị Võ Thị V có quyền đi lại, thăm nom và giáo dục con chung không ai được cản trở.
3. Về án phí:
- Chị Võ Thị V phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí DSST về ly hôn, nhưng được khấu trừ vào số tiền đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0001678 ngày 21 tháng 5 năm 2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Quỳ Châu. Chị V đã nộp đủ án phí DSST.
4. Về quyền kháng cáo: Chị Võ Thị V và anh Vi Văn Q có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
T/M.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Các đương sự - VKSND huyện Quỳ Châu - Chi cục THADS huyện Quỳ Châu - Phòng KTNV&THA - TAND tỉnh Nghệ An - UBND TT. N, H.Nghĩa Đàn, T.Nghệ An - Lưu hồ sơ vụ án | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Hoài Nam |