- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Anh Phạm Tuấn Hải ly hôn chị Nguyễn Thị Mát"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Anh Phạm Tuấn H được ly hôn chị Nguyễn Thị M.
- Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 39/2020/HNGĐ-ST Ngày 14-7-2020 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Liên.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Đỗ Văn Thư
2. Bà Nguyễn Thị Lợi
- Thư ký phiên toà: Ông Ngô Trí Thắng, Thư ký Toà án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Lại Văn Quyền - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở, Toà án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 63/2020/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 02 năm 2020 về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 38/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 6 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 32/2020/QĐST-HNGĐ ngày 02 tháng 7 năm 2020, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Phạm Tuấn H, nơi cư trú: Thôn G, xã Đ, huyện T, thành phố Hải Phòng; có mặt.
- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị M, nơi cư trú: Thôn 5, D, xã T, huyện A, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong Đơn khởi kiện ngày 12 tháng 8 năm 2019 và quá trình tố tụng, nguyên đơn anh Phạm Tuấn H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh kết hôn với chị Nguyễn Thị M trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã T, huyện A, thành phố Hải Phòng vào ngày 19 tháng 12 năm 2008. Sau khi kết hôn vợ chồng cư trú tại xóm N, xã T, huyện A, thành phố Hải Phòng một thời gian sau đó chuyển về cư trú tại thôn 5 D, xã T. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2012 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng là bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nên vợ chồng thường xuyên xẩy ra va chạm, đánh cãi nhau. Mâu thuẫn đã được gia đình hòa giải nhưng không có kết quả, vợ chồng nhiều lần sống ly thân sau đó lại quay về đoàn tụ và từ tháng 8/2019 cho đến nay vợ chồng sống ly thân không ai còn quan tâm và có trách nhiệm với ai nữa. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng không thể khắc phục được nên anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Nguyễn Thị M.
Về con chung: Vợ chồng có hai con chung là Phạm Minh Đ sinh ngày 01 tháng 7 năm 2009 và Phạm Thị Trâm A sinh ngày 20 tháng 4 năm 2017, ly hôn anh Hải đề nghị Tòa án giao con chung Phạm Minh Đ cho anh nuôi dưỡng và giao con chung Phạm Thị Trâm A cho chị M nuôi dưỡng. Anh và chị M không ai phải cấp dưỡng nuôi con cho ai. Anh không đồng ý để chị M nuôi hai con vì anh có đủ điều kiện để nuôi con.
Về tài sản chung: Anh Phạm Tuấn H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại các bản tự khai ngày 20/3/2020 và 02/6/2020 bị đơn chị Nguyễn Thị M trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Thời gian, điều kiện kết hôn của vợ chồng như lời khai anh H đã trình bày ở trên. Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng là do anh H có biểu hiện ngoại tình, do chị không khéo léo nên mâu thuẫn vợ chồng xẩy ra. Vì con chung và muốn vun vén tình cảm vợ chồng chị không đồng ý ly hôn với anh H, chị mong muốn vợ chồng đoàn tụ nhưng nếu qua hòa giải anh H vẫn giữ nguyên quan điểm ly hôn thì chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Phạm Tuấn H.
Về con chung: Chị và anh Phạm Tuấn H có hai con chung như anh Phạm Tuấn H trình bày, ly hôn chị đề nghị Tòa án giao hai con chung Phạm Minh Đ và Phạm Thị Trâm A cho chị nuôi dưỡng. Việc cấp dưỡng nuôi con: Chị yêu cầu anh Hải cấp dưỡng nuôi con cho chị là 2.500.000đồng/con/tháng.
Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị M không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Dương phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã chấp hành đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định tại các điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Bị đơn không chấp hành các quy định tại các điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 của Bộ luật Dân sự; các điều 51, 56, 58, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, đề nghị Hội đồng xét xử: Xử cho anh Phạm Tuấn H được ly hôn chị Nguyễn Thị M; về con chung: Giao con chung Phạm Minh Đ sinh ngày 01 tháng 7 năm 2009 cho anh Phạm Tuấn H nuôi dưỡng và giao con chung Phạm Thị Trâm A sinh ngày 20 tháng 4 năm 2017 cho chị M nuôi dưỡng sau ly hôn đến khi mỗi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật; Anh Hải và chị M không ai phải cấp dưỡng nuôi con cho ai; về tài sản chung: không xem xét giải quyết; về án phí: Anh Phạm Tuấn H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- Về tố tụng:
Về việc xét xử vắng mặt đương sự: Bị đơn chị Nguyễn Thị M đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do nên căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn chị Nguyễn Thị M.
- Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ lời khai của các đương sự, tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp và tài liệu, chứng cứ do Tòa án thu thập, đủ cơ sở xác định: Anh Phạm Tuấn H và chị Nguyễn Thị M kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện A, thành phố Hải Phòng vào ngày 19 tháng 12 năm 2008, theo quy định tại Điều 8 và Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nên thường xuyên xảy ra va chạm, cãi nhau, do mâu thuẫn nên anh H và chị M đã sống ly thân từ tháng 8/2019 đến nay không ai quan tâm và có trách nhiệm với ai nữa. Quá trình giải quyết vụ án, chị M mong muốn vợ chồng đoàn tụ, Tòa án đã thông báo phiên họp hòa giải để hòa giải mâu thuẫn vợ chồng nhưng chị M vắng mặt không có lý do, tại phiên tòa chị M tiếp tục vắng mặt không có lý do, anh H không đồng ý đoàn tụ với chị M và vẫn giữ quan điểm đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn nên vụ án không hòa giải được. Xét thấy, tình trạng hôn nhân giữa anh H và chị M đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, yêu cầu ly hôn của anh H là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình.
Về con chung: Anh Phạm Tuấn H và chị Nguyễn Thị M có hai con chung là Phạm Minh Đ sinh ngày 01 tháng 7 năm 2009 và Phạm Thị Trâm A sinh ngày 20 tháng 4 năm 2017. Anh Phạm Tuấn H và chị Nguyễn Thị M có tranh chấp về người trực tiếp nuôi con sau ly hôn. Xét thấy, sau ly hôn việc nuôi dưỡng con chưa thành niên là quyền và nghĩa vụ của cha mẹ, anh H và chị M đều có công việc và thu nhập ổn định nên khả năng nuôi dưỡng, chăm sóc con chung là như nhau, nguyện vọng của con Phạm Minh Đ được ở với anh H, con Phạm Thị Trâm A còn nhỏ nên giao con Phạm Minh Đ cho anh H nuôi dưỡng và giao con Phạm Thị Trâm A cho chị M nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại khoản 1, 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình.
Về việc cấp dưỡng nuôi con: Anh Phạm Tuấn H và chị Nguyễn Thị M mỗi người nuôi một con nên không ai phải cấp dưỡng nuôi con cho ai.
Về tài sản chung: Anh Phạm Tuấn H và chị NguyễnThị M không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về án phí: Anh Phạm Tuấn H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn pháp luật quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 của Bộ luật Dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, khoản 1, 2 Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 6 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Phạm Tuấn H được ly hôn chị Nguyễn Thị M.
2. Về con chung: Giao con chung Phạm Minh Đ sinh ngày 01 tháng 7 năm 2009 cho anh Phạm Tuấn H trực tiếp nuôi dưỡng và giao con chung Phạm Thị Trâm A sinh ngày 20 tháng 4 năm 2017 cho chị Nguyễn Thị M trực tiếp nuôi dưỡng sau ly hôn đến khi mỗi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Việc cấp dưỡng nuôi con: Anh Phạm Tuấn H và chị Nguyễn Thị M không ai phải cấp dưỡng nuôi con cho ai.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về án phí: Anh Phạm Tuấn H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước, được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí chị Phạm Tuấn H đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0004732 ngày 28 tháng 02 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Dương, thành phố Hải Phòng.
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND huyện An Dương; - Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Dương, T.P Hải Phòng; - UBND xã T, huyện A, T.P Hải Phòng; - Tòa án nhân dân T.P Hải Phòng; - Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Liên |