vanban.org

Bản án 39/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Xử cho chị Phạm Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Văn N .

Về con chung: Giao hai con chung là Nguyễn Thị Thanh N, sinh ngày 10-9-2011 và Nguyễn Thị Hồng D, sinh ngày 17-5-2016 cho anh Nguyễn Văn N trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Việc cấp dưỡng nuôi con chị Phạm Thị H và anh Nguyễn Văn N … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn, tranh chấp nuôi con giữa chị Phạm Thị H và anh Nguyễn Văn N"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Xử cho chị Phạm Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Văn N .
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VINH BẢO
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 39/2020/HNGĐ-ST
Ngày 21-7-2020
V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VB, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thương Huyền.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Thu

Bà Nguyễn Thị Tâm

- Thư ký phiên toà: Ông Vũ Viết Hoàn - Thư ký Toà án nhân dân huyện VB, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện VB tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Sơn - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 7 năm 2020 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện VB, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 62/2020/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 02 năm 2020 về ly hôn, tranh chấp nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 6 năm 2020; Quyết định hoãn phiên tòa số 15/2020/QĐST-HNGĐ ngày 19 tháng 6 năm 2020, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị H ; đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn TT, xã LA, huyện VB, thành phố Hải Phòng; nơi ở: Thôn HA , xã CM, huyện VB, thành phố Hải Phòng; vắng mặt (Có đơn xin xử vắng mặt).

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn N; nơi cư trú: Thôn TT, xã LA, huyện VB, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Phạm Thị H trình bày: Chị và anh Nguyễn Văn N kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã LA, huyện VB, thành phố Hải Phòng vào ngày 13-12-2010. Quá trình chung sống, anh chị hoà thuận thời gian đầu và có hai con chung, mâu thuẫn vợ chồng phát sinh từ năm 2019 do bất đồng quan điểm, tích cách không hòa hợp, chị bị anh N đánh đập, đuổi ra khỏi nhà nên chị đã về gia đình ở thôn HA , xã CM, huyện VB, thành phố Hải Phòng sinh sống. Vợ chồng anh chị sống ly thân từ tháng 7/2019 đến nay, mỗi người ở một nơi, không quan tâm đến nhau. Nay chị H xác định tình nghĩa vợ chồng không còn, mâu thuẫn không thể hàn gắn được, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn N .

Về con chung: Chị và anh Nguyễn Văn N có 02 con chung là Nguyễn Thị Thanh N, sinh ngày 10-9-2011 và Nguyễn Thị Hồng D, sinh ngày 17-5-2016, hiện nay đang ở với anh N . Khi ly hôn, chị đề nghị Tòa án giao cả hai con chung cho anh N trực tiếp nuôi dưỡng, việc cấp dưỡng nuôi con chị xin tự giải quyết với anh N .

Về tài sản: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Nguyễn Văn N xác nhận về điều kiện hoàn cảnh kết hôn như chị Phạm Thị H trình bày là đúng. Quá trình chung sống, anh chị hòa thuận được thời gian đầu và có hai con chung. Mâu thuẫn vợ chồng phát sinh từ năm 2019 do bất đồng quan điểm nên chị H đã bỏ gia đình đi từ tháng 7/2019 đến nay. Vợ chồng anh chị sống ly thân, mỗi người ở một nơi. Nay chị H xin ly hôn anh không đồng ý.

Về con chung: Anh và chị Phạm Thị H 02 con chung là Nguyễn Thị Thanh N, sinh ngày 10-9-2011 và Nguyễn Thị Hồng D, sinh ngày 17-5-2016, hiện nay đang ở với anh. Khi ly hôn, anh đề nghị Tòa án giao cả hai con chung cho anh trực tiếp nuôi dưỡng. Việc cấp dưỡng nuôi con anh xin tự giải quyết với chị H .

Về tài sản: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Kiểm sát viên phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng đồng thời phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:

Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về: Thẩm quyền giải quyết vụ án, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp, tư cách của những người tham gia tố tụng; thu thập chứng cứ, việc xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn và các hoạt động tố tụng khác. Nguyên đơn, đã chấp hành yêu cầu của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án như việc giao nộp chứng cứ, tham gia phiên họp, phiên hòa giải theo quy định của pháp luật. Bị đơn không chấp hành yêu cầu của Tòa án, không nộp bản tự khai, không tham gia các phiên họp, phiên hòa giải. Tại phiên tòa bị đơn vắng mặt không có lý do. Tuy nhiên, việc bị đơn vi phạm quyền và nghĩa vụ tố tụng không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án.

Về nội dung vụ án: Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình: Xử cho chị Phạm Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Văn N . Về con chung: Giao hai con chung là Nguyễn Thị Thanh N, sinh ngày 10-9-2011 và Nguyễn Thị Hồng D, sinh ngày 17-5-2016 cho anh N trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Việc cấp dưỡng nuôi con chị H và anh N tự giải quyết nên không xem xét giải quyết. Về tài sản chung: Chị Phạm Thị H và anh Nguyễn Văn N không yêu cầu nên không xem xét giải quyết. Về án phí: Chị Phạm Thị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về tố tụng:

[1] Anh Nguyễn Văn N có hộ khẩu thường trú tại thôn TT, xã LA, huyện VB, thành phố Hải Phòng. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án ly hôn giữa chị Phạm Thị H và anh Nguyễn Văn N thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện VB, thành phố Hải Phòng.

Bị đơn anh Nguyễn Văn N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 để tham gia phiên tòa, tuy nhiên, anh N vẫn vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Chị Phạm Thị H có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn chị Phạm Thị H và bị đơn anh Nguyễn Văn N .

- Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị H và anh Nguyễn Văn N kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã LA, huyện VB, thành phố Hải Phòng vào ngày 13-12-2010, là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, anh chị hoà thuận thời gian đầu và có hai con chung. Mâu thuẫn vợ chồng phát sinh từ tháng 7/2019 do bất đồng quan điểm, tính cách không hòa hợp nên chị H đã về gia đình ở thôn HA , xã CM, huyện VB, thành phố Hải Phòng sinh sống. Vợ chồng anh chị sống ly thân, mỗi người ở một nơi, không quan tâm đến nhau. Nay chị H nhận thấy tình nghĩa vợ chồng không còn, mâu thuẫn không thể hàn gắn được, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh N . Quá trình giải quyết vụ án, anh N không đồng ý ly hôn với chị H . Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Phạm Thị H và anh Nguyễn Văn N đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, yêu cầu của chị Phạm Thị H xin ly hôn với anh Nguyễn Văn N phù hợp với khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình được chấp nhận.

Về con chung: Chị Phạm Thị H và anh Nguyễn Văn N có 02 con chung là Nguyễn Thị Thanh N, sinh ngày 10-9-2011 và Nguyễn Thị Hồng D, sinh ngày 17-5-2016. Khi ly hôn, chị H đề nghị Tòa án giao hai con chung cho anh N trực tiếp nuôi dưỡng, anh N có nguyện vọng được nuôi cả hai con chung. Xét yêu cầu nuôi con của anh N , Hội đồng xét xử nhận định: Anh N có nơi ở và thu nhập ổn định hàng tháng, con chung Nguyễn Thị Thanh N, sinh ngày 10-9-2011 có nguyện vọng xin được ở với anh N . Từ khi anh N và chị H sống chị ly thân đến nay, hai con chung ở với anh N do anh trực tiếp chăm sóc. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chung, cần chấp nhận yêu cầu của anh N , giao cả hai con chung cho anh N trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình. Việc cấp dưỡng nuôi con chị H và anh N xin tự giải quyết nên Tòa án không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung: Chị Phạm Thị H và anh Nguyễn Văn N không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.

Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 1 Điều 6 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị Phạm Thị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 266, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ khoản 1 Điều 6 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Xử cho chị Phạm Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Văn N .

2. Về con chung: Giao hai con chung là Nguyễn Thị Thanh N, sinh ngày 10-9-2011 và Nguyễn Thị Hồng D, sinh ngày 17-5-2016 cho anh Nguyễn Văn N trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Việc cấp dưỡng nuôi con chị Phạm Thị H và anh Nguyễn Văn N tự giải quyết nên Tòa án không xem xét giải quyết.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung: Chị Phạm Thị H và anh Nguyễn Văn N không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.

4. Về án phí: Chị Phạm Thị H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Chị H đã nộp tạm ứng 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện VB theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0008119 ngày 25-02-2020. Chị Phạm Thị H đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ