vanban.org

Bản án 39/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1]- Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị Thúy Ng được ly hôn anh Trịnh Minh H.

[2]- Về con chung, tài sản chung, tài sản riêng, công sức đóng góp khối tài sản và nợ chung: Không có. [3]-Về án phí: Chị Ng phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm và được khấu trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp tạm ứng án phí tại Chi cục Thi hành án dân sự h… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án HNGĐ chị Ng anh H"
  • Tòa quyết gì? [1]- Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị Thúy Ng được ly hôn anh Trịnh Minh H.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THẠCH THẤT, TP. HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 39/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 31/12/2020
V/v: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THẤT, THÀNH PHỐ HÀ NỘI.

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Khuất Đăng Cường.

- Các Hội thẩm nhân dân:

+ Ông Bùi Đăng Lý

+ Bà Nguyễn Thị Loan

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Lân - Thư ký Toà án nhân dân huyện Thạch Thất, Thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Thất, Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Triệu Văn Tiến- Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 12 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thạch Thất xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 122/2020/TLST- HNGĐ ngày 05 tháng 6 năm 2020 về việc tranh chấp ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 06/11/2020; Quyết định hoãn phiên tòa số:32/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 24/11/2020; Thông báo thay đổi ngày mở phiên tòa ngày 23/12/2020, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thúy Ng, sinh năm 1982;

Địa chỉ: Cụm 2, xã HT, huyện PT, t.p Hà Nội.

- Bị đơn: Anh Trịnh Minh H, sinh năm 1984;

Địa chỉ: Số nhà 4, TINT, xã PK, huyện TT, t.p Hà Nội.

(Nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Căn cứ vào đơn khởi kiện, bản tự khai, tại phiên tòa, nguyên đơn là Nguyễn Thị Thúy Ng trình bày: Chị và anh Trịnh Minh H đăng ký kết hôn hợp pháp ngày 31/5/2019 tại Ủy ban nhân dân xã Phú Kim, huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội. Sau khi tổ chức kết hôn vợ chồng chị về chung sống cùng mẹ chồng tại Số nhà 4, Ngoại Thôn, xã Phú Kim, huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội. Mâu thuẫn vợ chồng phát sinh mâu thuẫn từ tháng 7/2019 và kéo dài căng thẳng cho đến nay. Quá trình mâu thuẫn thường xuyên vợ chồng xảy ra to tiếng xúc phạm nhau. Mặc dù mâu thuẫn vợ chồng đã được gia đình hai bên hòa giải nhưng không đạt kết quả.

Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống trong sinh hoạt hàng ngày, anh H đánh bạc làm thất thoát kinh tế gia đình, ngoại tình và phạm tôi dẫn tới tổn hại danh dự, uy tín của vợ và gia đình nhà vợ. Chị Ng xác định tình cảm vợ chồng khong còn và đề nghị Tòa án giải quyết để anh được ly hôn anh Trịnh Minh H.

Về con chung, tài sản chung, tài sản riêng, công sức đóng góp khối tài sản và nợ chung: Chị Ng xác định không có.

Về án phí: Chị Ng tự nguyện chịu toàn bộ án phí LHST.

Tại biên bản bản tự khai ngày 06 tháng 6 năm 2020 và biên bản hòa giải, bị đơn là anh Trịnh Minh H trình bày: Anh và chị Nguyễn Thị Thúy Ng đăng ký kết hôn hợp pháp ngày 31/5/2019 tại Ủy ban nhân dân xã Phú Kim, huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội. Sau khi tổ chức kết hôn vợ chồng chị về chung sống cùng bố mẹ đẻ anh tại số nhà 4, NT, xã PK, huyện TT, thành phố Hà Nội. Mâu thuẫn vợ chồng phát sinh mâu thuẫn từ tháng 7/2019 và kéo dài căng thẳng cho đến nay. Anh chị đã sống ly thân từ tháng 4/2020. Không khí gia đình càng ngày càng trở nên nặng nề. Mặc dù mâu thuẫn vợ chồng đã được gia đình hai bên hòa giải nhưng không đạt kết quả.

Anh H thừa nhận nguyên nhân mâu thuẫn là do anh đã lao vào đánh bạc làm thất thoát kinh tế gia đình và ảnh hưởng danh dự, uy tín của vợ và gia đình nhà vợ. Tuy nhiên, anh H xác định còn tình cảm với vợ và mong muốn Tòa án hòa giải để vợ chồng đoàn tụ.

Về con chung, tài sản chung, tài sản riêng, công sức đóng góp khối tài sản và nợ chung: Anh H xác định không có.

Về án phí: Anh H đồng ý để chị Ng chịu toàn bộ án phí LHST.

Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

[1]- Về trình tự thủ tục tố tụng thì Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của pháp luật. Các đương sự đã được đảm bảo quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.

[2]- Quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị áp dụng các điều 51, 56, 57 của Luật hôn nhân và gia đình, để xử:

Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị Thúy Ng ly hôn anh Trịnh Minh H.

Về nuôi con chung, tài sản chung, tài sản riêng, công sức đóng góp khối tài sản và nợ chung: Không có.

Về án phí: Buộc chị Ng chịu toàn bộ án phí LHST.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về tố tụng: Anh Trịnh Minh H cư trú tại số nhà 4, NT, xã PK, huyện TT, Thành phố Hà Nội nên chị Nguyễn Thị Thúy Ng khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Thạch Thất giải quyết ly hôn là đúng thẩm quyền theo Điều 28 và Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thúy Ng và anh Trịnh Minh H đăng ký kết hôn hợp pháp ngày 31/5/2019 tại Ủy ban nhân dân xã Phú Kim, huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội. Sau khi tổ chức kết hôn, vợ chồng chị về chung sống cùng bố mẹ anh Trịnh Minh H tại số nhà 4, NT, xã PK, huyện TT, thành phố Hà Nội. Mâu thuẫn vợ chồng phát sinh từ tháng 7/ 2019 và kéo dài căng thẳng. Quá trình mâu thuẫn thường xuyên vợ chồng xảy ra to tiếng lăng nhục xúc phạm nhau và cũng từ tháng 4/2020, anh chị sống ly thân.

Xét thấy: Tòa án đã tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh H không xác nhận vì không đồng ý ly hôn. Sau đó, anh H vi phạm pháp luật và bị Công an huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội khởi tố, bắt tạm giam tại Trại giam số 2- Công an thành phố Hà Nội. Tòa án đã tiến hành làm việc với anh H tại trại giam và anh H có nguyện vọng xét xử vắng mặt nhưng từ chối xác nhận biên bản. Từ đó cho thấy ý thức chấp hành pháp luật của anh H là rất kém, không thực sự hàn gắn tình cảm vợ chồng. Mâu thuẫn vợ chồng giữa Chị Nguyễn Thị Thúy Ng, anh Trịnh Minh H đã trầm trọng, cuộc sống chung không còn tồn tại, mục đích của hôn nhân không đạt được. Chị Nguyễn Thị Thúy Ng xin ly hôn Trịnh Minh H là phù hợp Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận.

- Về nuôi con chung, tài sản chung, tài sản riêng, công sức đóng góp khối tài sản và nợ chung: Không có.

[4]- Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Chị Nguyễn Thị Thúy Ng phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm và được trừ vào số tiền đã nộp tạm phí tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạch Thất.

- Về quyền kháng cáo: Căn cứ các điều 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các điều 51, 56, 57 của Luật hôn nhân và gia đình.

Căn cứ Khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

[1]- Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị Thúy Ng được ly hôn anh Trịnh Minh H.

[2]- Về con chung, tài sản chung, tài sản riêng, công sức đóng góp khối tài sản và nợ chung: Không có.

[3]-Về án phí: Chị Ng phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm và được khấu trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp tạm ứng án phí tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạch Thất theo biên lai số 07436 ngày 05/6/2020.

[4]-Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án.

Cỡ chữ