- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Ngọc Như Qu - Nguyễn Đình T"
- Tòa quyết gì? 1/ Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Như Qu được ly hôn với ông Nguyễn Đình T.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH LONG AN Bản án số:39/2020/HNGĐ-ST Ngày: 26 - 03 - 2020 V/v Ly hôn và tranh chấp nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa : Bà Nguyễn Thị Mộng Thúy
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Thanh Hoàng
2. Ông Nguyễn Chí Lin
-Thư ký phiên tòa: Ông Phan Thanh Tú – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, Tỉnh Long an.
Ngày 26 tháng 3 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 249/2020/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 3 năm 2020 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 93/2020/QĐXX- ST ngày 16 tháng 3 năm 2020 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Như Qu, sinh năm 1980 (vắng mặt). Địa chỉ thường trú: Đội 2, thôn Tích Trường, xã Hải Lệ, thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị. Địa chỉ: 401 Plaza Tân Đức, Ấp Bình Tiền 1, xã Đức Hòa Hạ, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Đình T, sinh năm 1976 (vắng mặt). Địa chỉ: Đội 2, thôn Tích Trường, xã Hải Lệ, thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị. Địa chỉ: 402 Plaza Tân Đức, Ấp Bình Tiền 1, xã Đức Hòa Hạ, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Như Qu trình bày theo đơn khởi kiện như sau:
Về hôn nhân: bà và ông Nguyễn Đình T trước khi kết hôn có tìm hiểu nhau thời gian khoảng 03 tháng sau đó mới tiến đến hôn nhân vào năm 2010, hai người có đến Ủy ban nhân dân xã Hải Lệ, thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật vào ngày 22/7/2010. Trong quá trình chung sống hai vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn cãi vã do hai người không hợp nhau, xúc phạm nhau. Mặc dù bà có khuyên can nhiều lần nhưng ông T vẫn không thay đổi tính tình. Bà và ông T đã ly thân từ đầu năm 2013 đến nay. Cả hai không có thiện chí hàn gắn hạnh phúc gia đình. Nay bà kiên quyết xin được ly hôn với ông Nguyễn Đình T.
Về con chung: có một đứa con chung tên Nguyễn Thị Ngọc D, sinh ngày 31/7/2011 do bà đang nuôi. Khi ly hôn bà xin tiếp tục nuôi con và yêu cầu ông T phải cấp dưỡng nuôi con theo quy định mỗi tháng 2.000.000 đồng.
Tài sản chung: không có không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Nợ chung: không có không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn: Ông Nguyễn Đình T thống nhất lời trình bày của bà Nguyễn Thị Như Qu về tình trạng hôn nhân, con chung, tài sản và nợ chung như bà Qu trình bày là đúng. Ông đồng ý ly hôn, đồng ý để con cho bà Qu nuôi ông không cấp dưỡng và ông xin xét xử vắng mặt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Quan hệ pháp luật tranh chấp là hôn nhân gia đình, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Đức Hoà theo quy định tại Điều 35 Bộ luật dân sự. Bà Qu và ông T có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt ông bà.
Về hôn nhân: Xét thấy bà Qu và ông T hai người trước khi kết hôn có tìm hiểu nhau thời gian khoảng 03 tháng và tự nguyện kết hôn vào năm 2010 có đăng ký kết hôn nên Hôn nhân của ông bà là phù hợp Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Thấy rằng từ khi chung sống với nhau, hai người chỉ hạnh phúc thời gian đầu về sau cuộc sống chung không hợp nhau, thường xuyên cãi vã, xúc phạm nhau… Từ đó hai người đã ly thân từ năm 2013 đến nay cả hai không có thiện chí hàn gắn. Bà Qu kiên quyết ly hôn ông T. Tòa án đã triệu tập hợp lệ bà Qu và ông T đến dự hòa giải đoàn tụ nhưng ông bà có đơn yêu cầu không hòa giải và xin xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử thấy rằng mâu thuẫn vợ chồng giữa bà Qu và ông T đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó cần cho bà Nguyễn Thị Như Qu được ly hôn với ông Nguyễn Đình T theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung: hai người có một đứa con chung tên Nguyễn Thị Ngọc D, sinh ngày 31/7/2011 do bà Qu đang nuôi. Khi ly hôn bà Qu xin tiếp tục nuôi con và yêu cầu ông T phải cấp dưỡng nuôi con theo quy định mỗi tháng 2.000.000 đồng. Ông T đồng ý giao con cho bà Qu nuôi và không đồng ý cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy cháu Ngọc D từ khi ông T và bà Quh ly thân do bà Qu nuôi con tốt nên cần ghi nhận sự tự nguyện của đương sự giao con cho bà Qu nuôi. Về yêu cầu cấp dưỡng bà Qu yêu cầu 2.000.000 đồng/tháng là có cao nên cần điều chỉnh ở mức là 1.000.000 đồng/ tháng là phù hợp. Do đó cần buộc ông T phải cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng là 1.000.000 đồng đến khi con tròn 18 tuổi là phù hợp theo quy định Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình.
Về tài sản chung: Bà Qu và ông T khai không có không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập xem xét.
Về nợ chung: Bà Qu và ông T khai không có nên không đề cập xem xét.
Về án phí: Bà Qu là nguyên đơn trong vụ án phải chịu án phí Hôn nhân gia đình theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 35, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 9, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1/ Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Như Qu được ly hôn với ông Nguyễn Đình T.
2/Về con chung: Bà Qu được tiếp tục nuôi con chung tên Nguyễn Thị Ngọc D sinh ngày 31/7/2011. Ông T phải cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000 đồng (Một triệu đồng). Thời gian cấp dưỡng từ ngày 01/4/2020 đến khi con tròn 18 tuổi. Vì quyền lợi của trẻ, ông T được quyền thăm nom chăm sóc giáo dục con chung không ai có quyền ngăn cản. Khi cần thiết các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi tình trạng nuôi con và yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con.
3/ Về án phí: Bà Nguyễn Thị Như Qu phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm sung ngân sách Nhà nước, được khấu trừ số tiền đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng mà bà Qu đã nộp theo biên lai số 4886 ngày 04/3/2020 tại Chi cục thi hành án huyện Đức Hòa, tỉnh Long An. Ông Nguyễn Đình T phải nộp 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con sung vào Ngân sách Nhà nước.
Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết hợp lệ.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưởng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: -Các đương sự; -TAND Tỉnh Long An; -VKSND huyện Đức Hòa; -Chi cục THA huyện Đức Hòa; -UBND xã Hải Lệ, thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị. -Lưu. | (Đã ký) Nguyễn Thị Mộng Thúy |